Các hội y khoa đồng thuận thúc đẩy giảm natri, phòng ngừa bệnh tim mạch và đột quỵ

Ngày 31/10, các hội: Đột quỵ Việt Nam, Tiết chế Dinh dưỡng Việt Nam, Người giáo dục bệnh đái tháo đường Việt Nam và Dinh dưỡng Việt Nam đã ký Tuyên bố đồng thuận về giảm natri, bổ sung kali, tăng cường i-ốt trong muối ăn và ghi nhãn dinh dưỡng mặt trước bao bì để phòng ngừa bệnh tim mạch và đột quỵ.

Đại diện các hội y khoa ký tuyên bố đồng thuận thúc đẩy giảm natri, phòng ngừa bệnh tim mạch và đột quỵ (Ảnh: BAN TỔ CHỨC)
Đại diện các hội y khoa ký tuyên bố đồng thuận thúc đẩy giảm natri, phòng ngừa bệnh tim mạch và đột quỵ (Ảnh: BAN TỔ CHỨC)

Tuyên bố được ký kết trong khuôn khổ tọa đàm do Viện Dinh dưỡng chủ trì với nội dung “Một số khuyến nghị chính sách và tuyên bố đồng thuận về giảm tiêu thụ natri để phòng ngừa bệnh tim mạch và đột quỵ”. Đây là tiếng nói chung của cộng đồng chuyên môn, những người trực tiếp chăm sóc người bệnh ủng hộ nhãn cảnh báo mặt trước và muối giảm natri.

Theo đánh giá, giảm tiêu thụ natri là ưu tiên cấp thiết về y tế dự phòng tại Việt Nam khi lượng muối tiêu thụ trung bình của người Việt Nam là khoảng 8,1 gam/người/ngày, mức rất cao so với khuyến nghị của Tổ chức Y tế thế giới (dưới 5 gam/ngày). Ăn nhiều natri làm tăng huyết áp, qua đó làm gia tăng nguy cơ mắc các bệnh tim mạch, nhất là nhồi máu cơ tim và đột quỵ.

Các hội chuyên ngành nhấn mạnh giảm natri là biện pháp dự phòng bệnh không lây nhiễm hiệu quả với chi phí hợp lý. Cùng với đó, chính sách giảm muối cần phối hợp với bảo đảm i-ốt trong muối thực phẩm, nhằm đồng thời giảm nguy cơ bệnh tim mạch và phòng chống các rối loạn do thiếu i-ốt. Giảm lượng muối ăn không có nghĩa là từ bỏ muối i-ốt; cần dùng ít muối hơn nhưng ưu tiên muối có bổ sung i-ốt khi sử dụng.

quick.jpg
Đại diện các hội và chuyên gia quốc tế tham gia phiên tọa đàm "Một số khuyến nghị chính sách và tuyên bố đồng thuận về giảm tiêu thụ natri đề phòng ngừa bệnh tim mạch và đột quỵ". (Ảnh: BAN TỔ CHỨC)

Năm 2026, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã ban hành ấn bản thứ hai của tài liệu kỹ thuật SHAKE2, hướng dẫn chính phủ các quốc gia chuẩn bị, xây dựng, triển khai và giám sát một chương trình giảm lượng natri tiêu thụ toàn diện. Hai hướng can thiệp gồm: sử dụng muối giảm natri thay thế cho muối ăn thông thường ở những người phù hợp và áp dụng nhãn dinh dưỡng ở mặt trước bao bì để hiển thị hàm lượng natri của sản phẩm.

Muối giảm natri là các sản phẩm thay thế cho muối ăn thông thường với hàm lượng natri thấp hơn. Các sản phẩm này được sản xuất bằng cách thay một phần natri clorua bằng các khoáng chất khác như kali clorua (muối bổ sung kali) hay magiê sulfat (muối bổ sung magiê), trong đó muối bổ sung kali là loại muối giảm natri phổ biến nhất.

Theo hướng dẫn sử dụng muối giảm natri của Tổ chức Y tế thế giới năm 2025, nếu lựa chọn sử dụng muối ăn, người trưởng thành (không bao gồm phụ nữ mang thai và trẻ em) có thể cân nhắc thay thế muối thông thường bằng muối giảm natri có chứa kali. Khuyến nghị này không áp dụng cho người bị suy giảm chức năng thận hoặc có các tình trạng sức khỏe khác ảnh hưởng đến khả năng bài tiết kali. Người có bệnh mạn tính hoặc đang dùng thuốc cần tư vấn nhân viên y tế trước khi sử dụng.

Thông điệp thực hành được chuyển tải người dân đó là: giảm muối, nước mắm, nước tương, bột nêm và các loại gia vị giàu natri trong chế biến; hạn chế thực phẩm chế biến sẵn nhiều muối; đọc hàm lượng natri trên nhãn thực phẩm; ăn đa dạng rau và quả phù hợp với tình trạng sức khỏe; ưu tiên muối và gia vị i-ốt nhưng vẫn kiểm soát tổng lượng muối tiêu thụ.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Thanh Dương, Viện trưởng Viện Dinh dưỡng (Bộ Y tế) cho biết: Natri trong bữa ăn của người Việt phần lớn đến từ muối, nước mắm, bột canh và thực phẩm chế biến sẵn. Giảm tiêu thụ natri bằng cách giảm muối và gia vị mặn là một trong những giải pháp có hiệu quả cao để phòng ngừa tăng huyết áp, đột quỵ và các bệnh tim mạch.

quick-7098.jpg
Tiến sĩ Lê Thái Hà, Phó Cục trưởng Cục Phòng bệnh trao đổi tại tọa đàm. (Ảnh: BAN TỔ CHỨC)

Tiến sĩ Lê Thái Hà, Phó Cục trưởng Cục Phòng bệnh (Bộ Y tế) cho biết: Các bệnh không lây nhiễm hiện là nguyên nhân của khoảng 4/5 số ca tử vong tại Việt Nam, trong đó đột quỵ và bệnh tim mạch đứng hàng đầu. Trong khi đó, tăng huyết áp - yếu tố nguy cơ chính của hai bệnh này - có liên quan chặt chẽ với chế độ ăn nhiều muối.

Muối không chỉ đến từ lọ muối trong bếp mà ngày càng nhiều từ nước mắm, bột canh, gia vị và thực phẩm chế biến sẵn - những nguồn mà người tiêu dùng khó nhận biết nếu thiếu thông tin rõ ràng.

Trong những năm qua, Bộ Y tế đã triển khai nhiều hoạt động quan trọng: Kế hoạch quốc gia truyền thông vận động giảm muối trong khẩu phần ăn giai đoạn 2018-2025 theo Quyết định số 2033/QĐ-BYT; lồng ghép mục tiêu giảm muối trong Chiến lược quốc gia phòng, chống bệnh không lây nhiễm và Chiến lược quốc gia về dinh dưỡng; cùng với Viện Dinh dưỡng và WHO xây dựng mô hình hồ sơ dinh dưỡng (NPM) và ngưỡng natri cho thực phẩm bao gói sẵn…

Tuy vậy, kinh nghiệm trong nước và quốc tế cho thấy truyền thông thay đổi hành vi là cần thiết nhưng chưa đủ. Để tạo ra chuyển biến trên quy mô toàn dân, chúng ta cần các giải pháp mang tính cấu trúc, làm cho lựa chọn ít muối trở thành lựa chọn dễ dàng và mặc định.

Thứ nhất, ghi nhãn dinh dưỡng mặt trước bao bì, nhất là nhãn cảnh báo, giúp người tiêu dùng nhận biết nhanh sản phẩm có hàm lượng natri cao ngay tại thời điểm mua hàng, đồng thời tạo động lực để doanh nghiệp cải tiến công thức sản phẩm.

Thứ hai, muối giảm natri bổ sung kali là giải pháp thay thế trực tiếp cho muối ăn thông thường, vừa giảm natri vừa tăng kali trong khẩu phần mà vẫn giữ được vị mặn quen thuộc. Năm 2025, WHO cũng đã ban hành hướng dẫn khuyến nghị sử dụng muối giảm natri bổ sung kali có điều kiện thay cho muối ăn thông thường ở người trưởng thành. Việc đưa sản phẩm này vào thực tế tại Việt Nam đòi hỏi sự phối hợp liên ngành, từ tiêu chuẩn, quy định sản xuất muối của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, đến hướng dẫn tư vấn của ngành y tế, đặc biệt lưu ý các nhóm cần thận trọng như người mắc bệnh thận.

Tiến sĩ Lê Thái Hà khẳng định, Cục Phòng bệnh cam kết tiếp tục phối hợp chặt chẽ với các đơn vị thuộc Bộ Y tế và các bộ, ngành liên quan, các hội chuyên ngành và các đối tác phát triển để tiếp thu các khuyến nghị, đưa vào quá trình xây dựng kế hoạch, chiến lược giảm muối cho giai đoạn tiếp theo và các văn bản quy phạm pháp luật liên quan.

Có thể bạn quan tâm