Bước đột phá về đổi mới mô hình phát triển đất nước

Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV đã thống nhất cao nhiều chủ trương, quyết sách lớn của đất nước về xây dựng Đảng, hệ thống chính trị, phát triển và bảo vệ đất nước trong giai đoạn mới, trong đó có vấn đề đổi mới mô hình phát triển Việt Nam.

Dây chuyền sản xuất bảng mạch điện tử tại nhà máy của Công ty trách nhiệm hữu hạn 4P ở tỉnh Hưng Yên. (Ảnh: ĐĂNG ANH)
Dây chuyền sản xuất bảng mạch điện tử tại nhà máy của Công ty trách nhiệm hữu hạn 4P ở tỉnh Hưng Yên. (Ảnh: ĐĂNG ANH)

Trong phát biểu bế mạc Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: Đối với Đề án đổi mới mô hình phát triển Việt Nam, Trung ương quyết định ban hành Nghị quyết, xác định đây là vấn đề rất lớn, rất mới, chưa có tiền lệ, có ý nghĩa định hình mô hình phát triển quốc gia đến năm 2045 và xa hơn.

Tạo năng lực phát triển mới

Xác lập mô hình phát triển dựa vào năng suất, tri thức, công nghệ và con người là một trong bốn bước chuyển chiến lược của Hội nghị Trung ương lần thứ ba nhằm tháo gỡ điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực và tạo năng lực phát triển mới cho đất nước, từ đó thực hiện mục tiêu và những định hướng chiến lược lớn mà Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đề ra.

Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Khắc Quốc Bảo, Phó Giám đốc Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh nhận định: Các quyết sách của Hội nghị Trung ương 3 không đơn thuần là điều chỉnh chỉ tiêu mà là một sự thay đổi trong tư duy phát triển.

Đó là chuyển đổi từ mô hình phát triển dựa vào vốn, tài nguyên, gia công, lao động giá rẻ sang mô hình dựa vào năng suất, dữ liệu, đổi mới sáng tạo và nhân lực chất lượng cao.

Nghĩa là chuyển căn bản khỏi mô hình tăng trưởng theo chiều rộng mà Việt Nam đã duy trì trong nhiều thập niên để chuyển sang logic tăng trưởng theo chiều sâu, nơi mà giá trị gia tăng đến từ chất xám và công nghệ thay cho khối lượng lao động hay tài nguyên khai thác.

Điều quyết định thành công của bước chuyển này phụ thuộc vào ba yếu tố. Trước hết là thể chế và quản trị, theo đó, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số phải “thật sự chuyển hóa thành năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng”, nghĩa là cần cơ chế cụ thể để biến tri thức thành sản phẩm thị trường, chứ không dừng ở khẩu hiệu.

Cùng với đó là vai trò kép của Nhà nước kiến tạo và thị trường, trong đó kinh tế tư nhân được xác định là động lực quan trọng nhất. Tiếp theo là gắn đầu tư nước ngoài với chuyển giao công nghệ để nâng cao năng lực nội sinh, thay vì chỉ thu hút vốn.

Từ góc nhìn vĩ mô, Tiến sĩ Nguyễn Đức Kiên, nguyên Tổ trưởng Tư vấn kinh tế của Thủ tướng nhận định, theo nhiều lý thuyết phát triển bền vững, mô hình phát triển quốc gia của các nước đang phát triển và Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) dựa trên ba trụ cột chính: Phát triển kinh tế; bảo vệ môi trường; bảo đảm an sinh xã hội.

Trong đó, các lĩnh vực đều có sự liên kết chặt chẽ với nhau, tùy thuộc vào thực tế nền kinh tế-xã hội mà lựa chọn từng mũi đột phá. Vì vậy, xác định vị thế của Việt Nam trong quá trình phát triển là vấn đề rất quan trọng.

Mô hình phát triển đổi mới của Việt Nam từ nay đến năm 2045 nếu coi phát triển kinh tế là đột phá nhằm nâng cao đời sống, an sinh xã hội của Nhân dân và thực hiện cam kết bảo vệ môi trường thì có thể coi phát triển kinh tế với tốc độ tăng GDP hai con số là mũi nhọn đỉnh của tam giác; hai yếu tố bảo vệ môi trường và bảo đảm an sinh xã hội là hai điểm tạo nên đáy của tam giác phát triển.

8-buoc-dot-pha-2-1469.jpg
Sản xuất linh kiện điện tử tại Công ty trách nhiệm hữu hạn Sumida trong Khu công nghiệp Tịnh Phong, tỉnh Quảng Ngãi. (Ảnh: QUỐC KHÁNH)

Trong thời kỳ này, đây là hình tam giác cân với ưu tiên đầu tư mạnh mẽ cho tăng trưởng kinh tế, cải thiện mức thu nhập của người dân và thực hiện từng bước kinh tế xanh trong bảo vệ môi trường.

Các vấn đề nguồn nhân lực, hạ tầng số… là điều kiện, phương tiện để hiện thực hóa mục tiêu đến năm 2045.

Nỗ lực xây dựng nền kinh tế có sức chống chịu cao

Giáo sư Trần Thọ Đạt, Đại học Kinh tế Quốc dân nhận định, tại giai đoạn phát triển mới của đất nước, chúng ta đang đặt lại một câu hỏi căn bản: Việt Nam sẽ tạo ra sự thịnh vượng, sức cạnh tranh và vị thế quốc gia bằng cách nào trong những thập niên tới?

Câu hỏi này không dừng ở yêu cầu tăng trưởng nhanh, mà hướng tới kiến tạo một năng lực phát triển mới. Mục tiêu tăng trưởng hai con số rất quan trọng, nhưng thông điệp sâu hơn là không thể đạt mục tiêu đó bằng mô hình dựa nhiều vào vốn, tài nguyên, lao động giá rẻ và gia công được nữa.

Khi dân số già hóa và cạnh tranh công nghệ gay gắt, động lực cũ có thể làm tăng quy mô nhưng không đủ nâng chất lượng nền kinh tế.

Chuyển sang mô hình dựa trên năng suất, tri thức, dữ liệu, công nghệ, đổi mới sáng tạo… vì thế là điều kiện để Việt Nam tránh quỹ đạo tăng trưởng chậm lại sau khi bước vào nhóm thu nhập trung bình cao.

Theo Tiến sĩ Nguyễn Minh Thảo, Trưởng ban Phát triển doanh nghiệp và Môi trường kinh doanh, Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế-tài chính (Bộ Tài chính), trong nhiều năm, tăng trưởng của Việt Nam chủ yếu dựa vào vốn đầu tư, lao động giá rẻ, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài và xuất khẩu.

Khi những động lực này dần suy giảm hiệu quả, yêu cầu chuyển sang mô hình tăng trưởng dựa trên năng suất lao động, đổi mới sáng tạo, khoa học và công nghệ, chuyển đổi số, dựa vào nội lực của doanh nghiệp trong nước trở thành yêu cầu cấp thiết.

Điều này là cần thiết để thực hiện mục tiêu xây dựng nền kinh tế có sức chống chịu cao. Yêu cầu đặt ra hiện nay là nỗ lực đẩy nhanh tốc độ ban hành thành tốc độ thực hiện, đưa quyết tâm chính trị thành chuyển biến thực chất, kết quả cụ thể; trong sáu tháng cuối năm phải bảo đảm bộ máy thông suốt, xử lý điểm nghẽn cấp bách, hoàn thành cao nhất mục tiêu kinh tế-xã hội.

Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Khắc Quốc Bảo cho rằng, điểm nghẽn lớn nhất đang cản trở sự phát triển của nền kinh tế là năng lực thực thi chính sách. Để tập trung tháo gỡ điểm nghẽn này cần xử lý bốn vấn đề.

Một là, khi ban hành chính sách phải bảo đảm hai yêu cầu, gồm tính hợp lý về định mức chi và khả thi về quy trình thực hiện.

Hai là, nâng cao năng lực thực thi của đội ngũ cán bộ công chức với yêu cầu phải có khả năng nhận diện đúng điểm nghẽn trên cơ sở dữ liệu và bằng chứng; đồng thời chuyển mạnh từ tư duy thiên về kiểm soát sang kiến tạo, chủ động tạo lập môi trường thuận lợi để người dân, doanh nghiệp và các tổ chức xã hội phát huy năng lực.

Ba là, tăng cường liên kết giữa chính quyền địa phương, các viện nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp và cộng đồng.

Bốn là, thiết lập cơ chế bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung song song với việc kiểm soát quyền lực một cách chặt chẽ. Năm 2045 không còn xa nếu tính thời gian cần để đổi mới thể chế, đào tạo nhân lực và hình thành những doanh nghiệp công nghệ mạnh.

Thông điệp có ý nghĩa nhất là: Thời cơ phát triển không kéo dài vô hạn, khát vọng chỉ trở thành hiện thực khi được chuyển hóa thành năng lực hành động, tinh thần trách nhiệm đến cùng và kết quả mà người dân và doanh nghiệp có thể cảm nhận hằng ngày.

Có thể bạn quan tâm