Ứng dụng các biện pháp sinh học làm sạch nước hồ Hà Nội:

Biện pháp nào tối ưu?


Hà Nội hiện chỉ còn 32 hồ tự nhiên và nhân tạo với diện tích khoảng 800 ha. Những hồ này, theo điều tra, đều bị ô nhiễm, chủ yếu là ô nhiễm chất hữu cơ (phì nhưỡng). Việc làm cấp bách hiện nay là cần đưa ra những biện pháp xử lý ô nhiễm bảo đảm cho các hồ có chất lượng nước tốt và có hệ sinh thái bền vững trước khi diễn ra lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội, đặc biệt là hồ Hoàn Kiếm và Hồ Tây, vốn có tài nguyên đa dạng sinh học rất phong phú cần được bảo tồn và phát triển.

Ít tốn kém, hiệu quả cao

Tại hội thảo khoa học "Ứng dụng các biện pháp sinh học nâng cao chất lượng nước hồ Hà Nội" do Liên hiệp các hội Khoa học kỹ thuật Hà Nội tổ chức sáng 22-9, các nhà khoa học thống nhất rằng ô nhiễm nước hồ Hà Nội do nước thải và chất thải rắn bắt nguồn từ hoạt động công nghiệp, nông nghiệp đổ vào hồ. Nguyên nhân không kém phần quan trọng nữa là các hồ đã bị dọn sạch hầu hết các cây thủy sinh. Bởi vậy, việc làm sạch nước hồ Hà Nội bằng biện pháp sinh học, trong đó có cây thủy sinh gây được sự chú ý nhiều nhất.

Theo Giáo sư Dương Đức Tiến - ĐH Quốc gia Hà Nội, đây là biện pháp tuân thủ quy luật của thiên nhiên.

Theo Tiến sĩ Lê Khắc Quảng - Hội Bảo vệ thiên nhiên và môi trường Thủ đô, kết quả xử lý nước thải ở nhiều nước trên thế giới bằng công nghệ vi sinh vật hữu hiệu (EM) cho thấy khả năng ứng dụng công nghệ EM xử lý nước hồ rất hiệu quả. Dưới tác động của EM mùi hôi thối giảm đi và tăng cường khả năng xử lý nước thải của hồ, bảo đảm nước hồ đạt được các chỉ tiêu cho phép theo tiêu chuẩn môi trường mà không cần nạo vét, thay nước hồ.

Ở Việt Nam, những kết quả thử nghiệm ứng dụng EM để xử lý nước hồ nuôi tôm sú theo phương pháp kín, nuôi công nghiệp của Trung tâm Nghiên cứu Thuỷ sản 3 cho thấy EM có tác động rất tốt đến môi trường nước ao nuôi. Theo kết quả này, tổng số nhóm khuẩn lạc vàng (nhóm vi sinh vật có lợi) luôn ở mức cao hơn so với nhóm khuẩn lạc xanh (vi khuẩn không có lợi) từ 2 - 7 lần.

Giáo sư, Tiến sĩ Đặng Đình Kim - Phó Viện trưởng Viện Công nghệ Môi trường đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò của thực vật thủy sinh (TVTS) bởi chúng tham gia loại bỏ các chất hữu cơ, chất rắn lơ lửng, ni-tơ, phốt-pho, kim loại nặng, tác nhân gây bệnh... Trong khi đó, giá thành xử lý bằng phương pháp này rẻ hơn rất nhiều so với biện pháp hóa học, cơ học, lý hóa học bởi chỉ cần những loại cây rất phổ biến tại Việt Nam như bèo lục bình, bèo tấm, bèo cái, bèo ong, hoa dâu, thậm chí là lau sậy, cỏ nến, cỏ lác, tóc tiên,... sen, súng, cải xoong, rau cần, rong đuôi chó...

Nhiều loài trong số TVTS  này có khả năng tích lũy kim loại nặng. Một số loài cung cấp ô xy thông qua hệ thống thân rỗng và rễ chùm cho quá trình phân huỷ hiếu khí các chất hữu cơ. Giáo sư Kim cho biết bèo lục bình phối hợp với vi tảo Chlorella đã được sử dụng trong hồ sinh học để xử lý bổ sung nước thải của Nhà máy lọc dầu Tuy Hạ.

Hiện các cán bộ Viện Công nghệ Sinh học và Viện Công nghệ Môi trường đang tiến hành những thực nghiệm đối với những loài TVTS như bèo tây, bèo cái, rau muống và bèo tấm, cải xoong để đánh giá đặc điểm sinh học. Kết quả bước đầu cho thấy những loại thực vật có độ tăng trưởng cao, tham gia tích cực vào giảm thiểu các chất ô nhiễm nước.

Giáo sư Kim đề xuất có thể chọn TVTS thích hợp cho từng thuỷ vực cần xử lý. Có thể duy trì cảnh quan, thậm chí tạo cảnh quan đẹp bằng cách tạo các phao nổi đế trồng theo loại hình "vùng rễ". Các phao này có thể được thiết kế theo những hình khối khác nhau như hình chữ nhật, hình hoa... phù hợp với cảnh quan tổng thể của hồ. Ngoài ra, biện pháp này cũng kiểm soát được sự phát triển của TVTS, không cho chúng lan rộng ra mặt hồ.

Biện pháp nào tối ưu?

Ông Nguyễn Văn Hải, Giám đốc Công ty Đầu tư, Khai thác Hồ Tây rất tâm đắc với phương pháp sử dụng TVTS. Theo ông Hải, mỗi năm có đến 5 triệu m3 nước thải đậm đặc đổ vào hồ. Công ty đã từng triển khai thả khoảng 5 ha bèo tây xuống hồ và kết quả là nước hồ xanh trong trở lại. Ngoài ra, việc thả những loại động vật thuỷ sinh như ốc, trai, vẹm, hàu, ngao... tiêu thụ các thực vật phù du và cải thiện điều kiện trầm tích đáy. Mỗi con trai trung bình có thể lọc 2 - 3 m3/ngày. Bởi vậy mà Hồ Tây là một trong những hồ sạch nhất Hà Nội hiện nay. "Biện pháp sử dụng TVTS là rất khả thi" - ông Hải khẳng định.

Tuy nhiên, vẫn theo ông Hải, biện pháp cũng có mặt trái. Đó là nếu không có biện pháp kiểm soát của con người, bèo có nguy cờ phủ kín Hồ Tây. Thêm nữa, vào mùa đông, xác bèo chết cũng trở thành mối nguy hiểm rất lớn bởi cây bèo thân lớn, cao đến 1,6m. Việc thả sen hoặc súng cũng gây nguy cơ rất lớn. Hồ Gươm gần đây đã phải trả giá. Nếu không kịp thời nhổ tận gốc loài cây phát triển rất nhanh này, chúng sẽ lan nhanh kín mặt hồ. Với giải pháp nuôi trồng thủy sản, cảnh quan môi trường sẽ bị ảnh hưởng. Biện pháp này chỉ có thể được triển khai tại những hồ ở ngoại thành.

Bằng kinh nghiệm quản lý Hồ Tây đã nhiều năm, ông Hải đề xuất cùng với sử dụng TVTS, cần triển khai tách nước thải ra khỏi nước mưa trước khi cho chảy vào hồ; không sử dụng hồ làm nơi điều hòa nước của thành phố.

Còn Giáo sư, Tiến sĩ Vũ Hoan, Phó Chủ tịch Liên hiệp các hội Khoa học kỹ thuật Hà Nội - thành phố nên có quy định bắt buộc cá nhân, doanh nghiệp phải xử lý nước thải trước khi thải vào hồ.

Có thể bạn quan tâm