Xây dựng tốt chính sách giảm hại trong phòng, chống mại dâm

NDĐT- Ngày 16-9, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội phối hợp với Văn phòng Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) tại Việt Nam tổ chức hội thảo “Chính sách giảm hại trong phòng, chống mại dâm: Vấn đề an toàn, sức khỏe và quyền con người”.

Chương trình Phòng, chống mại dâm giai đoạn 2016-2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, nhấn mạnh các giải pháp mang tính xã hội trong việc giải quyết vấn đề mại dâm ở Việt Nam. Trong đó, đặc biệt chú trọng tới việc bảo đảm quyền, an toàn và sức khỏe của người lao động; phòng, chống bạo lực và lây nhiễm HIV/AIDS thông qua các can thiệp, các mô hình dự kiến triển khai trong giai đoạn 2016-2020.

Với sự hỗ trợ, giúp đỡ của các tổ chức quốc tế, tổ chức phát triển, tổ chức phi Chính phủ tại Việt Nam, một số địa phương đã xây dựng các mô hình giảm hại. Bước đầu, các mô hình này đã phát huy được hiệu quả nhất định. Tuy nhiên, để có thể triển khai mở rộng trên toàn quốc, cần phải thảo luận, đánh giá để những can thiệp, chính sách thí điểm trong các mô hình sau này là cơ sở thực tiễn cho việc nghiên cứu, xây dựng các chính sách, pháp luật về mại dâm trong thời gian tới.

Hiện nay, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội được Chính phủ giao nghiên cứu, xây dựng dự án Luật Phòng, chống mại dâm. Do vậy, hội thảo lần này tập trung thảo luận và đóng góp với cơ quan soạn thảo trong quá trình nghiên cứu, hoàn thiện các chính sách, pháp luật. Các chủ đề được đề cập chính là mục tiêu và ý nghĩa, các hoạt động của Chính phủ đã và đang thực hiện để tăng cường bảo đảm quyền của người lao động trong các cơ sở kinh doanh dịch vụ giải trí; những yếu tố cản trở trong vấn đề bảo vệ quyền của người lao động cũng như vai trò của tổ chức đại diện người lao động/người bán dâm, các tổ chức xã hội trong vấn đề bảo vệ quyền của người lao động trong các cơ sở kinh doanh dịch vụ này.

Theo ông Cao Văn Thành, Trưởng phòng Chính sách 05 (Cục Phòng, chống tệ nạn xã hội - Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội), thống kê chưa đầy đủ cho thấy, tổng số cơ sở kinh doanh dịch vụ trên cả nước là 130 nghìn cơ sở, trong đó có 7,5% nghi có tổ chức hoạt động mại dâm. Một bộ phận cơ sở kinh doanh dịch vụ có tính ổn định không cao (thường xuyên thay đổi địa điểm, giấy phép, người đứng đầu cơ sở…). Tổng số lao động tại các cơ sở kinh doanh dịch vụ loại này là khoảng 110 nghìn người, trong đó nghi hoạt động bán dâm khoảng 10-15%.

Một số vấn đề người bán dâm gặp phải trong quá trình làm việc như bạo lực (có nguy cơ bị bạo hành), dịch vụ y tế (nguy cơ cao mắc các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục, người có HIV chưa thực sự tự tin để tiếp cận với ARV; thiếu thông tin về bảo hiểm y tế và họ rất khó tiếp cận được vì thủ tục…); dịch vụ xã hội (sự kỳ thị trong cộng đồng còn cao; Nhà nước đã có chính sách hỗ trợ sinh kế, học nghề cho người lao động tình dục nhưng chưa thực sự phù hợp); dịch vụ pháp lý; mối quan hệ với cơ quan thực thi pháp luật…

Từ đó, ông Thành cũng nêu khuyến nghị. Đó là tiếp tục nghiên cứu, rà soát, đánh giá và sửa đổi quy định pháp luật đối với lao động tại các cơ sở kinh doanh dịch vụ giải trí phù hợp thực tiễn, với công việc của họ tại các cơ sở này; cụ thể hoá trong các dự luật về phòng, chống mại dâm.

Ông Thành nhấn mạnh, trước tiên, nên xây dựng mô hình can thiệp, trong đó có các chính sách, chương trình, dịch vụ đáp ứng nhu cầu của người lao động. Khi xây dựng mô hình này, cần tính tới đặc điểm, đặc thù của người lao động tại các cơ sở kinh doanh dịch vụ ở Việt Nam cũng như điều kiện kinh tế.

Việc xây dựng mô hình thí điểm hướng tới mục tiêu giúp người lao động làm việc trong các cơ sở kinh doanh dịch vụ giải trí được bảo đảm các quyền theo quy định của pháp luật về lao động, phù hợp với đặc thù công việc, tạo ảnh hưởng tới chính sách và các quyết định liên quan tới cuộc sống của họ.

Có thể bạn quan tâm