"Ðất Mèo Vạc mỗi bước đi là một bước nhảy. Người Mèo Vạc sống trên đá, chết chôn trong đá. Cây ngô ở đây cũng khổ hơn chỗ khác, cái rễ phải khỏe mới bám vào đá". Vì vậy, xa xưa nơi đây đã có nghề đúc gang, tạo nên những lưỡi cày thật to, dày và cong mới có thể đảm đương việc làm đất.
Sau khi Chứ Chúng Lử mất, nghề đúc ở Mèo Vạc dần dần bị lãng quên, rồi người ta đưa từ dưới xuôi những lưỡi cày 51, 58 lên bán, nhưng bao nhiêu lưỡi cày mới đều bị gãy, người Mông, người Lô Lô, người Pu Péo, Xạ Pang lại phải đem cái cuốc lên nương cuốc đất cố tránh hòn đá để gieo hạt thóc, hạt ngô cứu đói. Nhìn những lưỡi cày mang từ dưới xuôi lên bị vứt ngổn ngang trên nương rẫy, Chứ Chúng Lầu không khỏi băn khoăn, nghĩ ngợi cách làm sao để khôi phục lại nghề cũ của cha ông, giúp bản làng tránh khỏi cái đói, cái nghèo.
Từ những chi tiết nhỏ thông qua trí nhớ mang máng về lò đúc ngày ông nội còn sống, Chứ Chúng Lầu làm thử một chiếc. Ðó là năm 1995, năm mà người dân bản Sủng Cáng, xã Sủng Trà, huyện Mèo Vạc vẫn còn nhắc lại mãi với con cháu với niềm tự hào xen lẫn hạnh phúc khôn xiết, rằng: năm đó Chứ Chúng Lầu đã đúc được những lưỡi cày đầu tiên từ chính lò đúc của mình. Người già, thanh niên, nam nữ, trẻ nhỏ kéo đến từ sáng sớm và sung sướng xem ông Lầu làm lưỡi cày. Từ đó, những chiếc lò khác lần lượt được xây nên, những chiếc lưỡi cày cũng không ngừng đến với bà con Mèo Vạc. Chứ Chúng Lầu được dân bản gọi là "vua lưỡi cày", là "thần đúc"...
Nghề đúc cày Mèo Vạc không vất vả nhưng để trở thành một thợ giỏi thì mỗi người cần phải có sự kiên trì và chăm chỉ. Với một lò đúc thì chỉ cần một người chuyên kéo quạt cho than đỏ, một người trông nom độ nóng chảy của gang, khi gang đã chảy hoàn toàn thì cho vào khuôn và chỉnh hình cho sản phẩm. Ðiều đặc biệt của lưỡi cày Chứ Chúng Lầu là công thức pha trộn các hợp chất gang và việc ngâm ủ sản phẩm trong đống tro hai ngày trước. Người thợ phải biết kết hợp từng động tác kéo thanh thổi lửa và áng chừng thời gian cho sản phẩm bảo đảm tiêu chuẩn kỹ thuật. Nhìn bàn chân lỗ chỗ những vết thương vì giẫm phải những mảnh gang vừa mới ra lò của ông tôi hiểu được phần nào sự gian nan của người thợ vùng cao.
Lưỡi cày của Chứ Chúng Lầu cũng đúc từ gang như các lò khác nhưng rất bền, dày, to và cong. "Lưỡi cày của Lầu có mũi rộng hình cái thang, đầu lưỡi hớt cong vừa phải, khi cày nếu chạm vào đá thì người cày chỉ nâng nhẹ tay cày lên hoặc lược tay cày sang trái, phải là lách được những hòn đá ẩn trong lòng đất", ông Lẩu Nỏ Già, 45 tuổi, bản Sùng Cáng, Sủng Trà, Mèo Vạc nói thế. Nhờ những lưỡi cày của Lầu mà người dân Mèo Vạc không còn phải tốn tiền mua nhiều lưỡi cày từ dưới xuôi lên, đời sống sản xuất thuận tiện và ổn định hơn. Mỗi năm, Chứ Chúng Lầu làm được khoảng 1.000 chiếc cày, giá mỗi chiếc khoảng 50 đến 60 nghìn. Sản phẩm của ông không chỉ nổi tiếng trong huyện Mèo Vạc mà còn được nông dân ở các huyện khác đến mua.
Bây giờ, danh tiếng lưỡi cày Chứ Chúng Lầu đã lan truyền. Nhà Chứ Chúng Lầu đã mở hẳn một lò đúc lưỡi cày quy mô lớn. Con cháu, họ hàng của ông chăm chỉ theo nghề đúc, đều đã thành thạo và làm không hết việc. Không những thế, nhiều trai tráng các dân tộc Lô Lô, Giáy, Pu Péo... cũng đều đến lò của ông xin theo học. Lầu nói: "Với thợ lành nghề, mỗi tháng mình trả lương 500 đến 700 nghìn. Mình cũng không giấu nghề đâu, bảo được càng nhiều người, làm được càng nhiều lưỡi cày càng tốt".
Tiếng lành đồn xa, ông được bà con khắp nơi mời đến truyền nghề, khách du lịch lặn lội đến tham quan, và mới đây nhất, ông và hai người thợ nữa được mời về Bảo tàng dân tộc học (Hà Nội) tham gia cuộc triển lãm làng nghề đúc rèn. Thế nhưng, điều khiến ông vui nhất chính là việc giải quyết những khó khăn trong sản xuất cho bà con dân bản, góp phần mang lại mầu xanh trên "rừng đá" quê hương mình.