Khó khăn trong “xuất khẩu” văn học

Giới thiệu các tác phẩm văn học Việt Nam ra thế giới lâu nay không chỉ là mơ ước của người cầm bút mà còn của cả giới làm xuất bản và công chúng yêu văn học nước nhà. Song hành trình hiện thực hóa niềm khát khao ấy đang gặp nhiều trở ngại; thị phần sách văn học Việt Nam ở các thị trường sách quốc tế có thể ví như miếng bánh vô cùng bé nhỏ.

Bạn đọc trong nước và ngoài nước tham quan Triển lãm Giao lưu văn học Việt Nam với thế giới tổ chức tại Thư viện Hà Nội.
Bạn đọc trong nước và ngoài nước tham quan Triển lãm Giao lưu văn học Việt Nam với thế giới tổ chức tại Thư viện Hà Nội.

Những năm gần đây, với sự nỗ lực của cá nhân người viết, cũng như các đơn vị xuất bản đã có thêm khá nhiều tác phẩm văn học Việt Nam được giới thiệu ra thế giới. Ngoài một số tác giả kinh điển, người đọc nước ngoài đã biết đến nhiều tên tuổi của làng văn trong nước như Bảo Ninh, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Nhật Ánh, Hồ Anh Thái, Phan Thị Vàng Anh, Nguyễn Ngọc Tư, Nguyễn Ngọc Thuần... Chẳng hạn, Nguyễn Nhật Ánh là tác giả có sách phát hành ở nhiều thị trường quốc tế tạo hiệu ứng khá tốt với tác phẩm Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ. Nhà thơ Mai Văn Phấn gây hiện tượng khi có tới năm cuốn thơ được dịch và giới thiệu ra thế giới nhờ một nhà xuất bản (NXB) ở Anh làm “bà đỡ”; sách của anh lọt vào top 100 cuốn sách châu Á bán chạy nhất trên trang mạng Amazon...

Tuy nhiên, cũng cần thẳng thắn nhận thấy, dù đã có nhiều nỗ lực nhưng trong những năm qua công tác xuất khẩu văn học Việt Nam ra nước ngoài vẫn chưa đạt được hiệu quả như mong muốn. Nhiều ý kiến cho rằng, nguyên nhân chính là nội lực của nền văn học chưa thật sự đủ mạnh; có quá ít tác phẩm gây được tiếng vang trong công chúng, có khả năng vượt biên giới để đến với độc giả thế giới.

Trước khi đề cập đến chất lượng của văn học, cần nói đến chất lượng của công tác dịch thuật. Lâu nay, dù có nhiều hội nghị liên quan đến dịch thuật, quảng bá văn học, song công tác này xem chừng vẫn không mang lại những kết quả mong muốn. Nguyên nhân bởi chưa có một chế độ xứng tầm đối với những người làm công việc quan trọng này. Người giỏi nghề không thể tiếp tục vì thù lao nhận được quá khiêm tốn nên lựa chọn những công việc khác. Kết quả là, từng xảy ra những “thảm họa” dịch thuật, khi mà cuốn sách hay được trao vào tay những người còn non về nghề.

Phải ghi nhận, bên cạnh nỗ lực của các cá nhân chủ động đưa tác phẩm của mình ra thị trường thế giới, nhiều NXB cũng đã quyết liệt vào cuộc bởi nhận thấy công việc này mặc dù gian nan, nhưng là cần thiết để xây dựng gương mặt văn học Việt Nam một cách trọn vẹn, không bị méo mó như khi để các đối tác nước ngoài tự khai thác. NXB Kim Ðồng đã phát hành khá nhiều sách văn học ra thế giới bằng hình thức in song ngữ Việt - Anh hay Việt - Pháp nhằm hướng vào đối tượng người Việt Nam ở nước ngoài.

NXB Trẻ chủ động liên kết với các trang bán sách trực tuyến lớn trên thế giới để đưa những cuốn sách văn học bán chạy trong nước ra giới thiệu. Công việc này hiện các NXB vẫn phải đơn thương độc mã theo kiểu tùy tâm, mạnh ai nấy làm, chứ chưa có sự hỗ trợ của Nhà nước. Lãnh đạo NXB Trẻ chia sẻ, để đưa sách nói chung và sách văn học ra thị trường quốc tế, đơn vị đang vấp phải muôn vàn khó khăn. Ðó là công việc tìm kiếm tác giả, dịch giả, rồi cân đối kinh phí đầu tư, tìm thị trường phát hành. Ngay cả phương thức thanh toán khi làm việc với các đơn vị phát hành quốc tế cũng nhiều vấn đề, phải vừa làm vừa gỡ rối. Nhiều quy định về thuế cũng như tài chính ở ta chưa tạo điều kiện thuận lợi cho việc kinh doanh sách trên thị trường nước ngoài.

Trên thực tế xuất bản sách hiện nay, một tác phẩm văn học dù là tác giả mới hay cũ, thường chỉ in 1.000 bản. Những cuốn khá hơn, dự báo hấp dẫn độc giả có thể in đến 2.000 bản đã là mừng. Ðể có 5.000 bản hay 10.000 bản in là một hiện tượng, một cơn sốt trong đời sống văn học. Con số đó nằm trong sự đối sánh với tỷ lệ độc giả ở trong nước, cho thấy sức tiêu thụ sách văn học ngay trên sân nhà thiếu sự tương xứng, thậm chí phần nào còn yếu ớt, hụt hơi.

Một thị trường có đến hơn 80 triệu dân, số lượng người biết đọc rất lớn, nhưng sách văn học chỉ in 1.000 bản mỗi cuốn thì quả thực chẳng khác gì như muối bỏ biển. Nếu cần đo hiệu ứng một tác phẩm văn học trong thị trường nội địa, với con số trên rất khó để chúng ta thuyết phục thế giới. Trong khi, để có một cuốn sách, một tác giả hấp dẫn thị trường nước ngoài, các nhà đầu tư phải nhìn vào mức độ ảnh hưởng của cuốn sách, tác giả đó. Người ta không thể mạo hiểm bỏ tiền đầu tư cho một tác phẩm mà ngay ở sân nhà, nó chẳng tạo được hiệu ứng, “cơn sốt” gì. Bạn đọc trong nước thờ ơ thì không có lý gì người ta tin ra nước ngoài nó được đón nhận.

Nguyên tắc kinh doanh của các nhà đầu tư sách tầm quốc tế là săn tìm những cuốn sách bán chạy nhất. Không phải cứ bán chạy nhất là bảo đảm giá trị nghệ thuật cao, nhưng lại là điều kiện đầu tiên để nói về mức độ ảnh hưởng của cuốn sách đó với cộng đồng. Trong các lĩnh vực khác như âm nhạc hay điện ảnh cũng vậy, số lượng người nghe, người xem là yếu tố cần thiết đo nhiệt độ của sản phẩm đó nóng cỡ nào trên thị trường. Nhìn lại nền văn học của ta những năm qua, chỉ một vài cuốn gây chú ý. Những tác giả có thể tạo ra “cơn sốt” trong độc giả như Nguyễn Nhật Ánh, Nguyễn Ngọc Tư quá ít.

Vấn đề đặt ra là cần một sự ủng hộ lớn hơn của bạn đọc trong nước đối với sách văn học. Nếu số lượng bản in cho một đầu sách vẫn tiếp tục nằm ở mức như thời gian vừa qua sẽ rất khó cho câu chuyện xuất khẩu văn học trong tương lai. Và dĩ nhiên, cùng với việc trông mong sự ủng hộ của bạn đọc, các nhà xuất bản cũng như chính các tác giả cần nâng cao ý thức, vai trò trong việc sáng tạo, tiếp thị, đưa sách của mình tới bạn đọc hiệu quả nhất.

Có thể bạn quan tâm