Ở Việt Nam văn bia có rất sớm, còn lưu lại ở Bảo tàng Lịch sử, niên đại vào năm (589-617) thời kỳ nhà Tùy đô hộ. Bia tám mặt ở chùa Nhất - Trụ - Hoa - Lư (Ninh Bình) do vua Ðại Hành dựng vào năm 995.
Theo thống kê cuốn "Văn Khắc Hán Nôm - KHXH - 1992" đã có tới 1.919 tấm bia tuyển chọn từ bia đình, đền, chùa, miếu, lăng mộ, văn chỉ, núi động, thành quách... trên khắp miền đất nước.
Ðền Hùng có bia ở lăng Hùng Vương (Bản dập thư viện KHXH ký hiệu 18703) phiên âm chữ Hán:
Tự Ðức nhị thập thất niên
Sắc kiến
Hùng vương Lăng.
(Dịch nghĩa: Tự Ðức năm thứ 27 (1874). Vua ra lệnh dựng lăng Hùng Vương).
Về nội dung văn bia:
Người anh hùng Lý Thường Kiệt nói đầu thế kỷ thứ 11 ở bia chùa Linh Xứng núi Ngưỡng Sơn (Thanh Hóa): "Xây dựng lâu ngày cõi báu đã xong, nếu không khắc bia để lại, thì con cháu mai sau không biết tìm đâu để noi theo dấu vết, nên phải dùng văn bia trình bày rõ ràng công việc đã làm, dù cho nhân vật có đổi dời tiếng lành vẫn truyền mãi".
Theo truyền thống Việt Nam văn bia thường có nội dung về xây dựng (chọn địa điểm, vị trí, theo thuyết phong thủy, ca ngợi cảnh ngoạn mục, ca ngợi nhân vật được thờ tự...) như bài thơ khắc trên bia chùa Quán Thánh năm 1904 ca ngợi cảnh đẹp:
"Chuông chùa văng vẳng
trên sườn núi
Trăng xế lung linh chiếu cửa
hang
Trong tiếng cá bơi nghe
pháp vũ
Am đồng cây nhọn gió
mênh mang"Cũng có khi ca ngợi nhân vật:
"Phi tử oai danh khắp mọi
miền,
Trơ trơ ngôi miếu phía đầu
non
Ráng mây mờ mịt non sông
cũ
Cây cỏ sum suê hạo khí
còn".
| |
Văn bia thời Lý ngoài văn xuôi, còn nói vắn tắt bằng văn vần, hàm xúc có giá trị như một tác phẩm văn học. Có nhiều bia ghi lại chữ đại tự, ban tên của vua khi đi du ngoạn qua đền, chùa, hoặc nơi thắng cảnh, hoặc làm thơ để lại rồi sai người khắc bia.
Người xưa rất cẩn trọng về văn bia, soạn văn, và viết chữ thường là người có học rộng, hiểu sâu, có chức có quyền, thường là quan to trong triều, hoặc các nhà thiền sư, hay danh nho như Phạm Sư Mạnh, Lê Quát, Trương Hán Siêu, người có chữ viết phải đẹp cũng có thể là nho sinh. Cuối văn bia thường ghi ngày, tháng, năm, niên hiệu.
Về nghệ thuật trang trí bia:
Do bia là di vật quý, có giá trị, nên được chạm khắc tinh xảo, trang trí đẹp, trở thành tác phẩm nghệ thuật điêu khắc mang hơi thở thời đại. Nó cùng với các vật kiến trúc, khí vật nơi thờ tự thể hiện tâm lý cộng đồng.
Bia thời Lý Trần cao to có bia cao tới 2.5m x 1.7mb dày 0.29m, bệ vệ hoành tráng như một tượng đài khẳng định tinh thần độc lập tự chủ có bản sắc văn hóa riêng, bên cạnh nước Ðại Tống là nước Ðại Việt của ta. Trán bia và diềm bia đều trang trí chạm khắc theo đề tài cơ bản là giống nhau suốt chiều dày lịch sử chỉ khác về chi tiết.
Trán bia: Là hình cong hai mặt chạm khắc lưỡng long (rồng) hoặc lưỡng phượng chầu "mặt nguyệt". Thời Lý mặt nguyệt là một vòng tròn sáng, nhọn ở đỉnh đầu. Thời Trần thường thay bằng hình chữ Phật (Hán tự) vuông vức, thời Lê là hình mặt trời có tia, thời Mạc là một vòng tròn ngoài có thêm 1, 2, 3 vòng đồng tâm rõ là hình tượng mặt trăng "mặt nguyệt" và về sau là hình mặt trời có nhiều tia sắc nhọn trông như ngọn lửa thiêng thiêu cháy đốt mọi tà ma bảo vệ trong sạch, yên lành nơi đền chùa phật pháp.
Diềm bia: Ðiêu khắc đề tài hoa lá, chim thú có khi cả hình người, đi săn hoặc đánh trống đồng (tùy theo từng thời). Thời Lý là hoa dây uốn theo "hình sin" điểm uốn trổ bông hoa, về sau hoa lá phong phú hơn đến thế kỷ 18 mới có thêm chim thú tôm cá và hình người.
Bệ bia: Cũng được điêu khắc chu đáo. Thời Lý là hình con Rồng, Rắn quấn quýt nhau nhưng đầu đều ngóc lên với ý tưởng thiêng liêng cao quý. Bia thời Trần thường điêu khắc hình con rùa với ý tưởng một xã hội ổn định phát triển trường tồn. Bia thời Nguyễn bệ bia là một khối đá trông vững chắc nhưng uy nghi có khi rùa đội bia lại đặt trên bệ đá, với ý tưởng xây dựng một nước vững mạnh, kỷ cương xứng danh nước Ðại Nam sánh vai với nước Ðại Thanh phía bắc.
Hiện nay, Văn Miếu - Quốc Tử Giám có tới 82 bia tiến sĩ, qua văn bia và thờ tự cho thấy ông cha ta có nhiều người hiếu học, ưa chuộng kẻ văn tài, coi trọng chất xám. Bia được nhân dân trân trọng gìn giữ từ thế kỷ 15 đến thế kỷ 18 (1484 - 1779) đến nay. Chính văn bia đã mách bảo để chúng ta tự hào về nền văn hiến của mình.
Bia và văn bia, kết đọng những giá trị về văn học nghệ thuật, lịch sử, tín ngưỡng tôn giáo, kinh tế - xã hội là tấm gương phản ánh truyền thống văn hóa, mà chúng ta phải có trách nhiệm nối tiếp cùng nhau bồi đắp nâng lên một tầm cao mới.