Chiều 8/8, tiếp tục chương trình Kỳ họp không thường lệ thứ nhất, Quốc hội thảo luận ở hội trường Quốc hội về dự án Luật Dầu khí (sửa đổi).
Đẩy mạnh phân cấp, phân quyền đi kèm cơ chế kiểm soát
Cơ bản nhất trí với sự cần thiết sửa đổi Luật Dầu khí, đại biểu Trịnh Xuân An (Đoàn Đồng Nai) nhận định, điểm đáng chú ý nhất của dự thảo Luật lần này không chỉ sửa đổi các quy định về hoạt động dầu khí truyền thống mà còn từng bước mở ra không gian phát triển mới của ngành thông qua các quy định về CCS (công nghệ thu hồi và lưu giữ carbon), năng lượng ngoài khơi và dịch vụ kỹ thuật dầu khí công nghệ cao. Điều đó thể hiện tư duy chuyển từ quản lý hoạt động dầu khí sang kiến tạo sự phát triển của ngành dầu khí trong giai đoạn mới.
Góp ý về vai trò của Bộ Công thương và Tập đoàn Công nghiệp-Năng lượng Quốc gia Việt Nam (Tập đoàn), đại biểu đồng tình với chủ trương tiếp tục đẩy mạnh phân cấp, phân quyền trong dự thảo Luật. Tuy nhiên, qua rà soát Điều 56, Điều 57 và Điều 58, đại biểu cho rằng, địa vị pháp lý của Tập đoàn khi thực hiện quyền của "nước chủ nhà" vẫn chưa được thể hiện thật rõ trong dự thảo Luật.
Theo đại biểu, cần phân biệt rõ hai tư cách pháp lý của Tập đoàn. Một là, Tập đoàn với tư cách doanh nghiệp nhà nước, trực tiếp tham gia đầu tư, sản xuất, kinh doanh. Hai là, Tập đoàn với tư cách chủ thể được Nhà nước giao thực hiện quyền và nghĩa vụ của nước chủ nhà theo quy định của Luật Dầu khí. Hai tư cách này có mục tiêu, trách nhiệm và cơ chế kiểm soát khác nhau.
Từ phân tích trên, đại biểu Trịnh Xuân An đề nghị nghiên cứu bổ sung ngay tại Điều 56 một quy định mang tính nguyên tắc, xác định rõ: Khi thực hiện quyền và nghĩa vụ của nước chủ nhà, Tập đoàn thực hiện nhiệm vụ do nhà nước giao; độc lập với hoạt động đầu tư, sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp; chịu sự quản lý nhà nước của Bộ Công thương và sự kiểm tra, giám sát theo quy định của pháp luật.
Đồng thời, đại biểu đề nghị tiếp tục rà soát Điều 57 và Điều 58 theo hướng làm rõ hơn mối quan hệ giữa chức năng quản lý nhà nước của Bộ Công thương với chức năng thực hiện quyền của nước chủ nhà và các nhiệm vụ kỹ thuật được giao cho Tập đoàn. Theo đại biểu, đây sẽ là cơ sở quan trọng để vừa phát huy tính chủ động của doanh nghiệp, vừa bảo đảm hiệu lực quản lý nhà nước.
Chung quan điểm, đại biểu Nguyễn Thị Sửu (Đoàn thành phố Huế) thẳng thắn đặt vấn đề “càng giao quyền lớn cho Tập đoàn càng phải có cơ chế kiểm soát tương xứng”.
Đại biểu chỉ ra theo quy định tại dự thảo Luật, Tập đoàn đồng thời là doanh nghiệp đầu tư kinh doanh, trong khi còn được giao kiểm toán, thẩm tra, phê duyệt, quyết toán chi phí của nhà thầu.
Trên cơ sở đó, đại biểu đề xuất chỉnh lý khoản 3 Điều 56, khoản 9 Điều 58 dự thảo Luật theo nguyên tắc phân quyền nhưng không buông quyền kiểm soát. Cụ thể, cần phân định rõ việc thực hiện quyền, nghĩa vụ của nước chủ nhà với hoạt động đầu tư kinh doanh của Tập đoàn và doanh nghiệp do Tập đoàn sở hữu. Đồng thời, đối với các quyết định có khả năng làm thay đổi đáng kể trữ lượng, tổng mức đầu tư, chi phí được thu hồi, nghĩa vụ tài chính hoặc lợi ích của nhà nước phải có cơ chế thẩm định, chấp thuận hoặc kiểm tra trước của cơ quan quản lý nhà nước theo tiêu chí do Chính phủ quy định.
“Đây là hàng rào pháp lý cần thiết để người được giao quyền dám quyết định nhưng nhà nước vẫn kiểm soát được rủi ro”, đại biểu nêu rõ.
Phân định rõ rủi ro khách quan và lỗi chủ quan trong khai thác dầu khí
Theo đại biểu Nguyễn Ngọc Sơn (Đoàn thành phố Hải Phòng), hoạt động dầu khí có rủi ro địa chất cao, vì vậy trách nhiệm phải được xem xét trên cơ sở thông tin và mức độ rủi ro có thể nhận biết tại thời điểm quyết định, không chỉ nhìn vào kết quả cuối cùng. Theo đó, phải phân biệt quyết định sai do vi phạm pháp luật, thiếu trách nhiệm, vụ lợi với rủi ro khách quan vốn có của thăm dò, khai thác dầu khí. Có như vậy phân cấp mới thực chất, người được giao quyền mới chủ động quyết định và chịu trách nhiệm.
“Cách tiếp cận này cũng phù hợp với tinh thần Nghị quyết số 66-NQ/TW về đổi mới tư duy xây dựng và thi hành pháp luật, khơi thông nguồn lực phát triển, đồng thời vẫn tăng cường kiểm soát quyền lực”, đại biểu nói.
Cho rằng thăm dò dầu khí có rủi ro địa chất, kỹ thuật và thương mại rất cao, song đại biểu Nguyễn Thị Sửu (Đoàn thành phố Huế) lưu ý, cần phân biệt rủi ro khách quan của hoạt động dầu khí với quyết định đầu tư sai, vi phạm quy trình hoặc lỗi chủ quan.
“Nếu không phân định rõ cơ chế chia sẻ rủi ro có thể vô tình trở thành cơ chế xã hội hóa tổn thất nhưng tư nhân hóa lợi ích”, đại biểu bày tỏ.
Giải trình nội dung các đại biểu quan tâm, về nhóm vấn đề phân cấp, phân quyền và vai trò của Tập đoàn Công nghiệp-Năng lượng Quốc gia Việt Nam, Bộ trưởng Công thương Lê Mạnh Hùng nhấn mạnh, tinh thần xuyên suốt và nổi bật của dự thảo Luật là tăng cường phân cấp, giao quyền, đơn giản hóa thủ tục nhằm khơi thông nguồn lực đi đôi với tăng cường kiểm tra giám sát phù hợp chủ trương của Đảng, thông lệ về công nghiệp dầu khí quốc tế.
Đề cập cơ chế tổ chức giám sát, Bộ trưởng Công thương cho hay, trong dự thảo Luật quy định rất rõ, Chính phủ sẽ quy định chi tiết việc tổ chức kiểm tra giám sát. Trên cơ sở dữ liệu của Tập đoàn và các nhà thầu dầu khí báo cáo, cơ quan quản lý nhà nước sẽ giám sát dựa trên dữ liệu và kiểm toán dựa trên định hướng rủi ro.
Đồng thời, tại khoản 3 Điều 59 dự thảo Luật cũng quy định rõ về trách nhiệm quản lý giám sát của cơ quan đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước, giám sát việc đầu tư bảo toàn và phát triển vốn của nhà nước tại doanh nghiệp.
Về chính sách ưu đãi và đầu tư trong hoạt động dầu khí, Bộ trưởng Lê Mạnh Hùng cho biết, dự thảo Luật đã bổ sung các chính sách ưu đãi nhằm khuyến khích phát triển các mỏ nhỏ cận biên ở khu vực nước sâu xa bờ và đặc biệt là gia tăng hệ số thu hồi dầu...
Thay mặt cơ quan chủ trì soạn thảo, Bộ trưởng khẳng định sẽ tiếp thu đầy đủ các ý kiến trách nhiệm, tâm huyết của các đại biểu Quốc hội, tiếp tục hoàn thiện dự thảo Luật để báo cáo Chính phủ trình Quốc hội thông qua.