Trong tư duy sản xuất nông nghiệp, đất từng được coi là nguồn lực tự nhiên gần như vô tận để khai thác và sử dụng. Tuy nhiên, quá trình thâm canh, tăng vụ và lạm dụng phân bón, hóa chất đang khiến nguồn tài nguyên này suy giảm sức khỏe trên nhiều vùng sản xuất. Trong bối cảnh nông nghiệp chuyển từ mục tiêu tăng sản lượng sang nâng cao chất lượng gắn với sản xuất hữu cơ và xuất khẩu xanh thì vấn đề chăm sóc, phục hồi đất để trả lại và làm giàu thêm độ mỡ màu phù sa nuôi dưỡng cây trồng trở thành yêu cầu cấp bách, không thể trì hoãn.
Bài 2: Cho đất chuyển mình, sinh sôi
Từ những mô hình chủ động tái tạo đất bằng phân bón hữu cơ, phụ phẩm nông nghiệp, cây che phủ đến yêu cầu xây dựng dữ liệu, quan trắc và lập “hồ sơ sức khỏe đất”, hướng đi đang được đặt ra trong phục hồi sức khỏe đất là chuyển từ xử lý theo tình trạng sang quản lý có kế hoạch, phù hợp với từng loại đất, cây trồng và hệ sinh thái. Khi người sản xuất hiểu đất cần gì và có công cụ chăm đất đúng cách, quá trình bồi đắp mới tạo cơ hội cho đất tiếp tục chuyển mình sinh sôi, làm điểm tựa cho hành trình nông nghiệp xanh.
Hệ thống tưới tự động tại vùng nguyên liệu của Tập đoàn TH. (Ảnh: TẬP ĐOÀN TH)
Hệ thống tưới tự động tại vùng nguyên liệu của Tập đoàn TH. (Ảnh: TẬP ĐOÀN TH)
Cánh đồng mẫu lớn vùng Đồng bằng sông Cửu Long. (Ảnh: TTXVN)
Cánh đồng mẫu lớn vùng Đồng bằng sông Cửu Long. (Ảnh: TTXVN)
“Trả công” cho đất
Rời Thanh Hóa vào miền Nam lập nghiệp từ năm 1996, ông Nguyễn Bá Thịnh, xã Tân Tiến, tỉnh Đồng Nai (trước đây là xã Lộc An, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước) đã trải qua gần 30 năm thâm canh nhiều loại cây trồng, từ cà-phê, hồ tiêu đến sầu riêng. Điều đáng chú ý là sau từng ấy năm sản xuất, quỹ đất của gia đình ông vẫn giữ được độ phì nhiêu, tơi xốp.
Chia sẻ về bí quyết giữ đất, ông Thịnh cho biết: “Ngay từ những ngày đầu lập nghiệp, tôi đã luôn tâm niệm “tấc đất tấc vàng”, đất có khỏe thì cây mới tốt. Chính vì vậy, tôi đã chủ động thu gom bã đậu, thầu dầu... ủ thành phân hữu cơ chăm bón cho cây, tái tạo đất. Đồng thời dành thời gian nghiên cứu kỹ lưỡng đặc tính sinh trưởng của từng loại cây để sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật một cách khoa học. Nhờ kiên quyết nói "không" với việc lạm dụng hóa chất, hệ sinh thái đất luôn được bảo vệ khỏi nguy cơ suy thoái”. Tư duy đột phá này đã mang lại "trái ngọt" xứng đáng khi năm 2013 ông Thịnh vinh dự được Hiệp hội Hồ tiêu thế giới (IPC) bình chọn là "Người trồng tiêu giỏi nhất thế giới". Giải thưởng không chỉ ghi nhận năng suất vượt trội, sạch sâu bệnh của vườn tiêu mà còn tôn vinh hệ thống tưới tiêu, bón phân và phun thuốc tự động, tiết kiệm do chính ông sáng chế.
Trong khi đó, tại Hợp tác xã Nông nghiệp xanh HD (xã Cuôr Đăng, tỉnh Đắk Lắk), bài toán phục hồi đất suy thoái cũng được giải quyết khi nông dân thay đổi tư duy canh tác. Theo ông Phạm Quang Mười, cố vấn Hợp tác xã, khi hợp tác xã tiếp nhận 80 ha đất trồng sầu riêng và cây công nghiệp thì nhiều diện tích đã rơi vào tình trạng kiệt quệ, chai cứng. Thay vì nôn nóng khai thác, Hợp tác xã đã chấp nhận dành thời gian để "chữa lành" cho đất. Biện pháp cốt lõi được áp dụng là tăng tỷ lệ bón phân hữu cơ và ưu tiên sử dụng thuốc sinh học thay thế hóa chất bảo vệ thực vật. Nhờ đó, chỉ sau một năm, đất canh tác đã phục hồi độ tơi xốp và khả năng giữ nước; qua đó giúp cây trồng phát triển tốt, hạn chế tối đa sâu bệnh.
"Phục hồi sức khỏe đất là yêu cầu bắt buộc"
Tiến sĩ Nguyễn Quang Hải, Phó Viện trưởng phụ trách Viện Thổ nhưỡng Nông hóa
Hai câu chuyện ở hai vùng sản xuất khác nhau nhưng cùng chỉ ra một thực tế, đất không phải nguồn tài nguyên có thể khai thác vô hạn. Những gì cây trồng lấy đi qua mỗi mùa vụ cần được trả lại bằng chất hữu cơ, dinh dưỡng phù hợp và những phương thức canh tác giúp duy trì cấu trúc, độ phì nhiêu và hệ sinh thái đất. Theo Tiến sĩ Nguyễn Quang Hải, Phó Viện trưởng phụ trách Viện Thổ nhưỡng Nông hóa, việc gìn giữ và phục hồi "sức khỏe" đất không còn là khuyến khích mà là yêu cầu bắt buộc nhằm bảo đảm an ninh lương thực quốc gia. Đây là nền tảng cốt lõi để nâng cao sức chống chịu của ngành nông nghiệp trước biến đổi khí hậu, giúp tiết giảm chi phí đầu vào, nâng cao chất lượng nông sản và đáp ứng các "hàng rào" tiêu chuẩn khắt khe của thị trường xuất khẩu".
Coi đất đai như đối tác sản xuất
"Cần phải coi đất đai như một đối tác sản xuất" là nhận định của ông Nguyễn Văn Thiết, Giám đốc Quốc gia Rainforest Alliance tại Việt Nam. Thực tế ở Việt Nam hiện nay, kỹ thuật sản xuất đã có nhiều thay đổi so với canh tác truyền thống nhưng đất vẫn chịu áp lực thoái hóa, hệ sinh thái ở nhiều vùng còn nghèo và việc bảo vệ nguồn nước chưa được quan tâm tương xứng.
Theo hướng tiếp cận của nông nghiệp tái sinh, phục hồi đất cần được đặt trong hệ thống rộng hơn, gồm phục hồi sức khỏe đất, cây trồng, đa dạng hệ sinh thái, bảo vệ nguồn nước và cải thiện thu nhập cho nông hộ. Với ngành cà-phê, đó là chuyển từ mô hình độc canh sang những hệ thống sản xuất đa dạng hơn, trong đó cây che bóng, thảm phủ và các thành phần cây trồng khác cùng tham gia duy trì hệ sinh thái.
Riêng với sức khỏe đất, những việc căn bản lại có ý nghĩa quyết định, như: giảm phân vô cơ, tăng phân hữu cơ theo kế hoạch bón phân phù hợp với nhu cầu cây trồng; tăng cường cây che bóng để hạn chế bốc thoát hơi nước và bổ sung chất hữu cơ cho đất từ lá rụng; duy trì thảm phủ thực vật bằng cỏ mềm tự nhiên để chống xói mòn, giữ ẩm và nâng cao hàm lượng hữu cơ trong đất; theo dõi sinh trưởng và năng suất cây trồng để điều chỉnh kế hoạch bón phân hằng năm cho phù hợp.
Phục hồi đất theo hướng tiếp cận của nông nghiệp tái sinh. (Đồ họa: MINH ANH)
Phục hồi đất theo hướng tiếp cận của nông nghiệp tái sinh. (Đồ họa: MINH ANH)
Hướng tiếp cận phục hồi đất trồng cà-phê. (Đồ họa: ANH THƯ)
Hướng tiếp cận phục hồi đất trồng cà-phê. (Đồ họa: ANH THƯ)
Ông Phạm Quang Mười, cố vấn Hợp tác xã Nông nghiệp xanh HD (xã Cuôr Đăng, tỉnh Đắk Lắk) luôn chú trọng nguyên tắc “5 đúng” khi sử dụng phân bón. (Ảnh: MINH HUỆ)
Ông Phạm Quang Mười, cố vấn Hợp tác xã Nông nghiệp xanh HD (xã Cuôr Đăng, tỉnh Đắk Lắk) luôn chú trọng nguyên tắc “5 đúng” khi sử dụng phân bón. (Ảnh: MINH HUỆ)
Trồng dưa lưới trong nhà màng giúp kiểm soát môi trường, hạn chế sự phát sinh của sâu bệnh. (Ảnh: TTXVN)
Trồng dưa lưới trong nhà màng giúp kiểm soát môi trường, hạn chế sự phát sinh của sâu bệnh. (Ảnh: TTXVN)
Thu hoạch bưởi Diễn (Hà Nội). (Ảnh: TTXVN)
Thu hoạch bưởi Diễn (Hà Nội). (Ảnh: TTXVN)
Nhờ chú trọng đến đất canh tác, lúa chất lượng cao và phát thải thấp ở Đồng Tháp cho năng suất, chất lượng cao. (Ảnh: TTXVN)
Nhờ chú trọng đến đất canh tác, lúa chất lượng cao và phát thải thấp ở Đồng Tháp cho năng suất, chất lượng cao. (Ảnh: TTXVN)
Vùng trồng thanh long của Công ty Vina T&T Group. (Ảnh: MINH ANH)
Vùng trồng thanh long của Công ty Vina T&T Group. (Ảnh: MINH ANH)
Kiểm tra sầu riêng trước khi xuất khẩu tại Công ty Vina T&T Group. (Ảnh: MINH ANH)
Kiểm tra sầu riêng trước khi xuất khẩu tại Công ty Vina T&T Group. (Ảnh: MINH ANH)
Thay đổi nhận thức để hành động thiết thực
Xác định sức khỏe đất đóng vai trò quan trọng trong xây dựng nền nông nghiệp bền vững, có trách nhiệm, tháng 10/2024, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (nay là Bộ Nông nghiệp và Môi trường) đã phê duyệt Đề án “Nâng cao sức khỏe đất và quản lý dinh dưỡng cây trồng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050”. Đề án nhấn mạnh vào các giải pháp chính, gồm: cơ chế và chính sách; khoa học, công nghệ và khuyến nông; chuyển đổi số trong quản lý; thông tin truyền thông và đào tạo tập huấn.
Tuy nhiên, thực tế việc nâng cao sức khỏe đất vẫn còn nhiều hạn chế. Theo bà Nguyễn Thị Thu Hương, Phó Cục trưởng Trồng trọt và Bảo vệ thực vật (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), một số nơi vẫn thiên về nhìn nhận đất như một nguồn tài nguyên tĩnh thay vì coi đó là một hệ sinh thái, một nền sinh học quan trọng cho nông nghiệp. Do đó còn tình trạng bón phân quá mức, sử dụng hóa chất thiếu hợp lý ảnh hưởng đến chất lượng đất. Trong khi đó, việc cải tạo đất, kiểm tra các đặc tính vật lý, hóa học để xác định dinh dưỡng cần bổ sung chưa được các địa phương triển khai thật sự hiệu quả.
Mặt khác, hiện thông tin về các vấn đề liên quan sức khỏe đất đôi khi còn “cao siêu”, nặng về khoa học kỹ thuật, chưa phù hợp với một bộ phận nông dân. Vì vậy, Bộ Nông nghiệp và Môi trường xác định xây dựng chiến lược truyền thông với các tài liệu chuyên biệt cho từng nhóm đối tượng, giúp mỗi người có cái nhìn đầy đủ, đúng đắn hơn về sức khỏe đất. Khi nhận thức thay đổi, những hành động cụ thể trong thực hành nông nghiệp hằng ngày mới được thực hiện để tạo ra hiệu quả thiết thực.
Sử dụng thiết bị không người lái trong sản xuất nông nghiệp tại Đồng bằng sông Cửu Long. (Ảnh: MINH ANH)
Sử dụng thiết bị không người lái trong sản xuất nông nghiệp tại Đồng bằng sông Cửu Long. (Ảnh: MINH ANH)
Xây dựng hồ sơ sức khỏe đất
Liên quan ứng dụng khoa học, công nghệ trong phục hồi sức khỏe đất, Tiến sĩ Nguyễn Quang Hải, Phó Viện trưởng phụ trách Viện Thổ nhưỡng Nông hóa cho rằng, các cơ quan quản lý cần xây dựng và cập nhật cơ sở dữ liệu đất nông nghiệp, hình thành hệ thống quan trắc và đánh giá sức khỏe đất theo thời gian; từng bước xây dựng "Hồ sơ sức khỏe đất” cho các vùng sản xuất hàng hóa, trong đó không chỉ ghi nhận hàm lượng dinh dưỡng mà cả carbon hữu cơ, pH, cấu trúc, khả năng giữ nước, hoạt động sinh học và các nguy cơ ô nhiễm.
Đây sẽ là cơ sở khoa học để quy hoạch cây trồng, quản lý dinh dưỡng và đưa ra các khuyến cáo canh tác phù hợp. Về sản xuất, cần chuyển mạnh từ “bón phân theo thói quen” sang quản lý dinh dưỡng theo nhu cầu của cây và khả năng cung cấp của đất; tăng cường sử dụng hợp lý phân hữu cơ, tận dụng phụ phẩm nông nghiệp, duy trì che phủ đất, luân canh và đa dạng hóa cây trồng; đồng thời áp dụng các biện pháp giảm xói mòn, tăng khả năng giữ nước và hạn chế làm đất quá mức.
"Bác sĩ đất"
Đối với từng vùng sinh thái cần xây dựng các gói giải pháp phục hồi đất cụ thể thay vì áp dụng một công thức chung cho tất cả các vùng. Một hướng đi quan trọng khác là phát triển các công cụ chẩn đoán nhanh và hệ thống tư vấn “bác sĩ đất” giúp người sản xuất biết đất đang thiếu gì, mất chức năng nào và cần bổ sung hoặc điều chỉnh ra sao.
Sử dụng thiết bị cảm biến chăm sóc vườn sầu riêng tại Đắk Lắk. (Ảnh: MINH ANH)
Sử dụng thiết bị cảm biến chăm sóc vườn sầu riêng tại Đắk Lắk. (Ảnh: MINH ANH)
Cùng đó, cần đẩy mạnh nghiên cứu về carbon hữu cơ, dinh dưỡng trung và vi lượng, hệ vi sinh vật đất, khả năng giữ và cung cấp nước cũng như các chất gây ô nhiễm có nguy cơ đi vào nông sản. Quan trọng hơn, việc phục hồi đất cần được đánh giá bằng kết quả thực tế: đất có tăng carbon hữu cơ không, khả năng giữ nước và dinh dưỡng có được cải thiện không, xói mòn có giảm không, hiệu quả sử dụng phân bón và nước có tăng không, và năng suất có được duy trì ổn định với mức đầu vào hợp lý hơn không.
Nói cách khác, mục tiêu cuối cùng không chỉ là “cải tạo đất” mà là phục hồi các chức năng của đất và nâng cao sức khỏe đất một cách lâu dài. Điều này cần phải có sự phối hợp giữa Nhà nước, nhà khoa học, doanh nghiệp và người sản xuất. Ở đó, Nhà nước tạo cơ chế và hệ thống dữ liệu; các viện, trường nghiên cứu xây dựng công nghệ và hướng dẫn kỹ thuật; doanh nghiệp tham gia đầu tư và tổ chức vùng nguyên liệu; người sản xuất là chủ thể trực tiếp thực hiện các biện pháp quản lý đất. Khi sức khỏe đất được coi là một tài sản sản xuất cần được đầu tư và bảo vệ lâu dài, ngành nông nghiệp mới có thể vừa duy trì năng suất vừa bảo đảm chất lượng nông sản và khả năng cạnh tranh trên trường quốc tế.
Ngày xuất bản: 25/9/2026
Chỉ đạo: Nguyễn Thị Thu Hà
Thực hiện: Ánh Tuyết, Minh Huệ
Ảnh: Tuyết Huệ, Minh Anh, Anh Thư, TTXVN
(Bài có sử dụng sự hỗ trợ của AI trong thiết kế)
