Sư đoàn chủ lực vang bóng miền đông

NDĐT- Nhắc đến Trung tướng Lê Nam Phong, nhiều cán bộ, chiến sĩ nhớ tới ông bởi biệt danh từ thời chống Pháp đến chống Mỹ, như: Đại đội trưởng đầu trọc, Năm bình toong, Năm lửa, Năm Hỏa lực… Riêng tôi, đặc biệt ấn tượng vị Sư đoàn trưởng chủ lực đánh trận “trinh sát chiến lược” Phước Long đến tiến công Xuân Lộc, tuyến phòng ngự cuối cùng của ngụy quyền Sài Gòn.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Trung tướng Lê Nam Phong
Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Trung tướng Lê Nam Phong

Từ mũi đột kích chiến lược Phước Long

Những ngày cuối năm 9174, khi cuộc chiến tranh đang ở thế khốc liệt sống còn, Trung tướng Lê Nam Phong khi đó là Sư trưởng Sư đoàn 7, được Tư lệnh Quân đoàn 4 Hoàng Cầm giao nhiệm vụ giữ vai trò công kích chính, cùng các lực lượng phối thuộc tiến công Phước Long.

Phước Long nằm ở phía đông bắc cách Sài Gòn hơn 100km. Bắc giáp Cam-pu-chia; đông giáp Quảng Đức; nam giáp Bình Dương; tây giáp Bình Long… là giao điểm của bốn địa bàn chiến lược rất quan trọng. Phước Long có hình thế trận phòng ngự kiên cố, vững chắc, trong khi địch có quân số đông, được chi viện từ nhiều hướng. Đánh Phước Long sẽ là một mắt xích quan trọng trên tuyến đường 14, mở rộng hành lang vùng giải phóng của ta…

Chấp hành mệnh lệnh, Sư đoàn 7 gấp rút chuẩn bị nhưng hết sức chu đáo, kiểm tra, đôn đốc sâu sát đến từng phân đội nhỏ, động viên cán bộ, chiến sĩ kịp thời, làm tốt công tác binh, dân vận. Quân đoàn 4 cùng bộ đội địa phương, dân quân, du kích vào trận Phước Long với khí thế mới. Đêm 30 rạng sáng 31-12-1974, Sư 7 nổ súng tiến công, đạn pháo 130 ly cấp tập dội xuống, pháo cao xạ bắn lên khống chế máy bay địch, xe tăng lần đầu tiên trên chiến trường miền Đông Nam Bộ xuất kích, bộ đội ta nhanh chóng đánh chiếm cao điểm Bà Rá, chi khu quân sự Phước Bình, chặt đứt thế phòng ngự liên hoàn, chỉ còn lại trung tâm thị xã Phước Long.

Từ mọi hướng đảm nhiệm, Sư đoàn 7 và các đơn vị phối thuộc nhanh chóng áp sát vòng vây, thọc sâu vào thị xã, lúc này chỉ còn trên dưới 2km2. Khi nhận thấy tình hình khó khăn, Tư lệnh quân đoàn huy động tập trung binh hỏa lực, tiến công địch mãnh liệt, đánh tê liệt các ổ đề kháng, làm chủ thế trận. Đến trưa ngày 6-1 lá cờ “Quyết chiến, quyết thắng” của ta đã được cắm trên nóc dinh tỉnh trưởng. Chiến thắng Phước Long đã tạo nên một bàn đạp, hậu phương vững chắc, là cơ sở quan trọng để Bộ Chính trị hạ quyết tâm chiến lược giải phóng hoàn toàn miền nam, thống nhất Tổ quốc.

Nhắc về trận đánh năm xưa, Trung tướng Lê Nam Phong như vừa chia sẻ vừa dặn dò: “Qua kinh nghiệm trận mạc tôi thấy, phải luôn quan tâm, thương yêu cấp dưới. Trong huấn luyện cũng như thực hành chiến đấu, nhất nhất chấp hành mệnh lệnh chỉ huy. Nên ngay từ đầu chiến dịch, chúng tôi làm hết sức khẩn trương, chuẩn bị kỹ mọi phương án, giành thế chủ động mới thắng lợi. Hình ảnh chiến sĩ Nguyễn Đăng Hoan quả cảm cắm lá cờ trên nóc dinh tỉnh trưởng ngày ấy tôi ghi nhớ mãi”

Phát triển tiến công giải phóng Lâm Đồng

Sau chiến thắng Phước Long, Sư đoàn 7 của Trung tướng Lê Nam Phong được giao phối hợp với các lực lượng Quân khu 7, Quân khu 6 chuẩn bị đánh chi khu Định Quán, giải phóng đường 20, tỉnh Lâm Đồng, mở hành lang và bàn đạp trên hướng tiến công Sài Gòn.

Khi đó Sư đoàn 7 dùng căn cứ cũ của địch ở cầu Nha Bích có cấu trúc gần với chi khu Định Quán, huấn luyện bổ sung, tổ chức thao diễn trên sa bàn lần cuối ở Vĩnh An. Rạng sáng 17-3-1975, Sư đoàn trưởng Lê Nam Phong ra lệnh nổ súng tiến công địch. Pháo binh bắn dồn dập vào chi khu và các vị trí địch ở Phương Lâm, La Ngà, núi Tràm, đồi Đăng Ca và cao điểm.

Ngay từ đợt tiến công đầu tiên quân ta đã nhanh chóng tiêu diệt địch co cụm phòng thủ núi Tràm, chia cắt Định Quán với Quân đoàn 3- ngụy. Nhưng khi trực tiếp tiến công chi khu Định Quán tại cao điểm 124 thì sức tiến công bị chững lại vì quân địch thực hiện tử thủ khiến quân ta không tiến công tiêu diệt. Nhớ lại thời điểm khó khăn đó Trung tướng Lê Nam Phong kể: “Lúc đó Tư lệnh Hoàng Cầm điện hỏi và đốc chúng tôi liên tục. Tình hình “căng” quá Tư lệnh gọi điện “mắng” tôi rằng: “sao Phước Long khó vậy mà mày còn đánh được?” rồi ông chỉ thị luôn: “phải giải quyết cho được cao điểm 124”.

Sau khi rút kinh nghiệm cách đánh, quán triệt chỉ thị của Tư lệnh, Sư đoàn 7 sử dụng nhiều biện pháp, nhất là tổ chức tốt lực lượng mật tập để giải quyết cao điểm 124. Dù chưa đưa được xe tăng vào trực tiếp chiến đấu, nhưng liên tục cho xe tăng đồng loạt gầm rú, địch đồn trú trong công sự hoảng loạn, mò ra khỏi công sự và bị ta tiêu diệt, một phần địch tự tháo chạy do lo sợ. Sau hai ngày chiến đấu kiên cường, ta làm chủ và giải phóng hoàn toàn Định Quán. Lực lượng địch trong hệ thống đồn bốt từ Túc Trưng đến Phương Lâm dọc lộ 20 dài gần 60 km bị ta tiêu diệt hoặc bức rút.

Chiều 28-3, Sư đoàn 7 và các đơn vị phối thuộc được lệnh cơ động cấp tốc bằng cơ giới lên Lâm Đồng, vừa đi vừa đánh địch, tiêu diệt chi khu quân sự Đạ Hoai và tiếp tục cơ động cách thị xã Lâm Đồng khoảng 3km. Đúng 0 giờ30 ngày 29-3-1975, khi các cánh quân nổ súng tiến công vào toàn thị xã Lâm Đồng và đến 5giờ30 sáng, ta làm chủ hoàn toàn.

Mũi tiến công chủ yếu trận tuyến phòng ngự Xuân Lộc

Khi Sư đoàn 7 chuẩn bị tiến công Đà Lạt thì được lệnh trên gấp rút quay về. Ngày 4-4 phải có mặt tại vị trí tập kết, chuẩn bị mọi mặt tiến công tuyến phòng ngự Xuân Lộc trên hướng chủ yếu, đánh thọc sâu và chiếm giữ sở chỉ huy Sư đoàn 18 ngụy của chuẩn tướng Lê Minh Đảo.

Tuyến phòng ngự này có quy mô, tính chất kiên cố vững chắc và sức chi viện của địch chưa từng có, được xác định là tuyến phòng thủ cuối cùng trước cửa ngõ Sài Gòn. Từ ngày 9-4 đến 20-4, địch huy động đến khu vực này khoảng 50% lực lượng bộ binh, 60% pháo binh và hầu hết xe tăng, thiết giáp hiện có của Quân đoàn 3 cùng lực lượng dự bị, tương đương một sư đoàn. Không quân ở các sân bay Biên Hòa, Tân Sơn Nhất chi viện trên 80 lần chiếc/ngày… làm cho tình hình càng khó khăn, khốc liệt hơn bao giờ hết.

Sau khi nhận lệnh, lãnh đạo Sư đoàn 7 bàn bạc thống nhất, tập trung lãnh đạo tốt mọi mặt nhất là tư tưởng của cán bộ, chiến sĩ. Đúng 5 giờ 40 sáng 9-4, trên các hướng, ta nổ súng tiến công. Trên hướng chủ yếu, Sư đoàn 7 được tăng cường tám xe tăng tiến đánh vào căn cứ Sư đoàn 18 ngụy. Khi cách khoảng 300m, quân ta chững lại vì địch chống cự quyết liệt, phải chuyển hướng tiến công và chỉ chiếm được một phần hậu cứ của Chiến đoàn 52 địch. Trong khi đó, tại vòng ngoài, quân ta diệt được bảy xe tăng của Chiến đoàn 43, 48 từ Tân Phong, núi Thị vào cứu viện. Trên hướng chia cắt, Sư đoàn 6 của ta tiến công tiêu diệt được năm chốt của địch đoạn từ Hưng Nghĩa đến đèo Mẹ Bồng Con, buộc quân địch phải bỏ Túc Trưng về giữ Dầu Giây. Tuyến phòng thủ ngoại ô thị xã Xuân Lộc bị phá vỡ.

Ngày 10-4, Sư đoàn 7 cùng các lực lượng phối hợp tiến công căn cứ Sư đoàn 18 ngụy, Chiến đoàn 52 và Trung đoàn 5 thiết giáp của địch. Ngày 11-4, địch và ta giằng co quyết liệt, địch tăng viện mạnh và bố trí lại đội hình, tạo thế phòng ngự kiên cố hơn. Ta chủ động tiến công, các hướng mũi đều quyết tâm tiêu diệt địch, nhưng đã xuất hiện dấu hiệu ta chưa đánh giá hết sức mạnh kháng cự quyết liệt của địch, nên trong ba ngày chiến đấu, lực lượng tiến công trên hướng chủ yếu tuy tiêu diệt, chiếm giữ, làm chủ được một số khu vực trọng yếu, thu được nhiều trang bị vũ khí của địch, nhưng lực lượng của ta cũng tổn thất, thương vong khá nhiều. Bộ Tư lệnh Miền chỉ thị ngừng tiến công thị xã Xuân Lộc.

Cấp trên triệu tập họp bàn cách đánh mới. Sư đoàn 7 được bổ sung quân, trang bị vũ khí… thực hiện bước chuyển hóa thế trận của cấp trên, lập thế trận mới, đánh cắt rời Xuân Lộc với Biên Hòa tại điểm Dầu Giây, đánh chặn và ghìm chân địch ở Túc Trưng, cắt đường số 1 và lộ 20, cắt đứt đoạn Xuân Lộc - Bàu Cá, không cho địch co cụm, tiếp tế chi viện, không cho địch rút về đường số 2 đi hướng Bà Rịa.

Đúng như cấp trên dự kiến, sau khi củng cố đội hình, bổ sung lực lượng, trang bị vũ khí, thực hiện phương án cách đánh mới. Sáng 15-4, ta tiến công mãnh liệt vào các khu vực dự kiến, địch rối loạn đội hình, pháo 130mm dồn dập khống chế sân bay Biên Hòa khiến địch không thể tiếp viện. Quân ta lần lượt tiêu diệt, làm chủ từng mục tiêu đã xác định. Khi thấy không còn khả năng kháng cự, địch bí mật rút khỏi Xuân Lộc, ta tổ chức lực lượng truy kích, nhưng do phát hiện muộn, ta chỉ tiêu diệt được một bộ phận đi sau.

Liên tục hơn 11 ngày đêm chiến đấu, với vai trò quân đoàn chủ lực phối hợp với các lực lượng địa phương tiến đánh thiệt hại nặng Sư đoàn 18 ngụy, tiêu diệt Chiến đoàn 52, đánh thiệt hại nặng Chiến đoàn 5 và Lữ đoàn 3 thiết giáp, hàng nghìn tên địch bỏ mạng, bắt sống 2785 tên, thu 48 ô tô, 1499 súng các loại…giải phóng Xuân Lộc và toàn tỉnh Long Khánh. Từ đây, cửa ngõ hướng đông Sài Gòn được mở toang. Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương hạ đặt mệnh lệnh “Thần tốc, táo bạo, quyết thắng”, giải phóng hoàn toàn miền nam, thống nhất Tổ quốc.

Có thể bạn quan tâm