LTS: Trong hệ thống chi viện chiến lược Bắc – Nam thời kỳ chống Mỹ, cứu nước, Đường Hồ Chí Minh trên biển là một tuyến vận tải đặc biệt, thể hiện tầm nhìn và nghệ thuật chỉ đạo quân sự của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng. Nếu dãy Trường Sơn mở hành lang xuyên núi rừng đưa người và vũ khí vào Nam, thì trên hướng Biển Đông, những con tàu “không số” của Đoàn 759, sau này là Đoàn 125 Hải quân, thực hiện nhiệm vụ chi viện trên một chiến trường không có hầm hào trú ẩn, giữa sự kiểm soát, phong tỏa ngày càng gắt gao của đối phương.
Đầu năm 1968, trong đợt chi viện phục vụ Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân, Đoàn 125 nhận một nhiệm vụ đặc biệt... Theo lịch sử đơn vị, bốn tàu 165, 235, 56 và 43 được lựa chọn, lần lượt hướng vào các bến ở Cà Mau, Khánh Hòa, Bình Định và Quảng Ngãi. Phương án đặt ra: tàu nào không vào được bến thì nghi binh, thu hút lực lượng đối phương để tạo điều kiện cho những tàu khác. Từ ngày 25 đến 27/2/1968, bốn con tàu lần lượt rời miền Bắc. Chỉ Tàu 56 trở về.
Trong đội hình ấy, C235 chở hơn 14 tấn hàng và vũ khí hướng về bến Hòn Hèo, Khánh Hòa. Rạng sáng 1/3/1968, sau cuộc truy đuổi và chiến đấu quyết liệt, con tàu được lệnh tự hủy để bảo vệ bí mật nhiệm vụ. Tiếng nổ khép lại hải trình của C235, nhưng cuộc chiến của những thủy thủ chưa kết thúc. Nó tiếp tục trên những gành đá, sườn núi Hòn Hèo, trong những ngày đói khát tìm đường về bến và cả những cuộc tìm kiếm, chôn cất đồng đội giữa chiến sự.
Trong số 20 cán bộ, chiến sĩ tham gia chuyến đi, 14 người đã hy sinh. Chiến công và tên tuổi các anh đã được ghi vào lịch sử. Nhưng gần sáu thập niên sau, khi đặt những trang sử bên lời kể của người sống sót, nhật ký của những người ở bến, hồ sơ và ký ức của thân nhân, vẫn còn những mắt xích chưa được nối lại đầy đủ: ai đã hy sinh trên tàu, ai nằm lại trên bờ; từng người được tìm thấy, chôn cất ở đâu; những cuộc cất bốc, quy tập sau chiến tranh đã đưa họ về đâu; vì sao có những gia đình biết nơi người thân hy sinh nhưng vẫn chưa thể đứng trước một phần mộ mang đúng tên người thân của mình?
Và câu chuyện không chỉ dừng lại trên bờ. Một phần C235 vẫn nằm lại dưới mặt biển Hòn Hèo. Với những trường hợp chưa nối được hành trình từ người hy sinh đến nơi chôn cất, những gì con tàu còn lưu giữ dưới đáy biển cũng là một khoảng trống cần tiếp tục làm rõ.
Hưởng ứng Chiến dịch 500 ngày đêm tìm kiếm, quy tập, xác định danh tính hài cốt liệt sĩ, chúng tôi trở lại câu chuyện Tàu C235. Lần theo từng lời chứng trăn trở của cựu binh, từng dòng nhật ký ố màu thời gian, cùng những hồ sơ và hành trình tìm kiếm của đồng đội, thân nhân, chúng tôi từng bước đối chiếu thông tin, kiểm chứng các đầu mối trên bờ và dưới biển.
Loạt bài “TIẾNG VỌNG HÒN HÈO” bắt đầu từ những giờ cuối cùng của con tàu, lần theo những dấu mộ giữa Hòn Hèo, những người con đi tìm cha, những khoảng trống trong hành trình quy tập và cả phần con tàu còn nằm dưới biển.
Cuộc lần tìm ấy tiếp nối một nguyện vọng âm thầm nhưng bền bỉ: tìm lại nơi yên nghỉ của những người lính đã hy sinh ở Hòn Hèo. Bởi với những gia đình chưa tìm thấy người thân, hải trình trở về ấy vẫn chưa khép lại…
5 chiến sĩ sống sót cuối cùng của tàu C235. (Ảnh: Bảo tàng Hải quân)
5 chiến sĩ sống sót cuối cùng của tàu C235. (Ảnh: Bảo tàng Hải quân)
Ai đã hy sinh trước khi tàu nổ? Ai là người cuối cùng rời Tàu C235?
Tròn 65 năm Ngày mở Đường Hồ Chí Minh trên biển (1961–2026), khi những nhân chứng năm xưa đã ở tuổi cao, thời gian để hỏi thêm một người, làm rõ thêm một dấu vết đang ngắn lại. Chúng tôi tìm gặp những người trở về từ Tàu C235, nghe họ kể lại đêm Hòn Hèo và những day dứt về đồng đội vẫn theo họ suốt gần sáu thập niên.
Ngôi nhà của cựu binh Lê Duy Mai nằm gần ngã tư Ngọc Sơn (Thanh Hóa), cách Quốc lộ 1A không xa. Ở vùng quê này, chỉ cần hỏi “nhà bác Mai tàu không số”, từ người già đến trẻ nhỏ đều có thể chỉ đường ngay.
Xe chúng tôi vừa dừng trước ngõ, ông Mai đã bước ra đón. Ở tuổi gần 85, trong bộ quân phục Hải quân màu trắng phẳng phiu, ông vẫn giữ dáng đi nhanh nhẹn. Cái bắt tay siết chặt, lời mời khách vào nhà, cách rót chén trà đầu tiên vẫn vẹn nguyên sự chỉn chu của người lính biển năm xưa.
Phòng khách tràn ngập ký ức: Trên mảng tường trung tâm, những tấm bằng khen, giấy chứng nhận thời chiến được treo trang trọng bên cạnh ảnh gia đình. Nổi bật là bức ảnh phục dựng Tàu C235 cùng hình ảnh năm thủy thủ may mắn trở về miền Bắc sau trận đánh tại Hòn Hèo. Trên bàn, bên chén trà nhỏ, ông Mai đã chuẩn bị sẵn một xấp tài liệu. Giữa những dấu tích của đời lính và đời thường, C235 hiện diện như một phần quá khứ chưa bao giờ thực sự ở xa.
Ông Mai lần từng tờ giấy, từng bức ảnh rồi kể. Cách người thợ điện năm xưa nhớ về con tàu mang rõ dấu ấn nghề nghiệp: hệ thống máy, vị trí các khoang, những thao tác được huấn luyện cho tình huống phải phá tàu. Nhưng khi câu chuyện chạm tới những người không trở về, giọng ông chậm xuống.
“Bất an, bứt rứt…” – đó là hai từ ông Lê Duy Mai lặp đi lặp lại khi đau đớn nhớ về những người đồng đội còn nằm lại đâu đó giữa đại dương hoặc dưới lớp đất rừng Hòn Hèo. Đến nay, thông tin về số phận từng người vẫn chưa được làm rõ đầy đủ.
Ông run run trao cho chúng tôi bản kiến nghị đã gửi tới các cơ quan chức năng. Điều người lính già khắc khoải là làm rõ số phận từng đồng đội trên chuyến đi ấy: Ai đã được chôn cất, quy tập? Những phần mộ nào còn chưa xác định được tên người? Và còn dấu vết nào để tiếp tục tìm kiếm?
“Bác hoàn toàn không biết” – cựu chiến binh Lê Duy Mai lắc đầu khi chúng tôi hỏi: lúc rời tàu, ông có biết những ai đã hy sinh trên tàu hay không?
Câu trả lời của ông Mai dừng ở giới hạn những gì ông trực tiếp chứng kiến.
Những tư liệu, hình ảnh quý giá được ông Lê Duy Mai cất giữ cẩn thận.
Những tư liệu, hình ảnh quý giá được ông Lê Duy Mai cất giữ cẩn thận.
Từ Thanh Hóa, chúng tôi tiếp tục tìm đến Hải Phòng gặp cựu pháo thủ Nguyễn Đồng Phong, một người trở về từ C235, để nghe thêm câu chuyện từ vị trí chiến đấu trên boong tàu.
Lần đầu liên hệ qua điện thoại, giọng người cựu pháo thủ ở đầu dây khá mệt. Cuộc trò chuyện vừa mở ra được ít phút thì vợ ông nhận máy, ngập ngừng chia sẻ sức khỏe của chồng dạo này sa sút, rồi ân cần hẹn chúng tôi chiều hôm sau tới gặp trực tiếp.
Chiều hôm sau, chúng tôi có mặt tại căn nhà nhỏ của ông bà trên một tuyến phố ở trung tâm Hải Phòng. Hai vợ chồng đã chờ sẵn. Ông Phong mặc bộ áo trắng mang dấu ấn Hải quân; bên cạnh, người vợ vẫn nhanh nhẹn đi lại, khi rót nước, lúc giúp chồng tìm tư liệu.
Theo lời ông, trước khi được biên chế về C235, ông từng là pháo thủ số 1 trên Tàu 145 và đã có trải nghiệm chiến đấu. Sau một lần bị thương, ông được điều về lực lượng tàu không số, sang Trung Quốc rồi tham gia huấn luyện trên C235. Ông Phong nhớ người lính trên tàu không được phép chỉ biết một chuyên môn: ngoài pháo, còn phải học máy, vô tuyến điện và các khoa mục khác để có thể thay thế đồng đội khi cần. “Tập ngày không đủ, tranh thủ tập đêm”, ông nhắc lại câu nói của những tháng huấn luyện.
Cựu pháo thủ Nguyễn Đồng Phong, một người trở về từ C235.
Cựu pháo thủ Nguyễn Đồng Phong, một người trở về từ C235.
Trên C235, ông làm pháo thủ số 1 khẩu 14,5mm phía sau.
Giữa mưa đạn và ánh pháo sáng trong đêm Hòn Hèo, mỗi người lính bám lấy vị trí chiến đấu của mình. Ký ức ông Mai gắn với tiếng máy dưới khoang và những thao tác kỹ thuật; ký ức ông Phong lại khắc sâu những lượt tiếp đạn, những hướng bắn trên boong.
Ai được nhìn thấy lần cuối ở đâu? Ai đã rời tàu và đi cùng nhóm nào? Từ những câu hỏi ấy, chúng tôi trở lại chuyến đi cuối cùng của C235, lần theo những dấu vết để nối lại hành trình của 20 con người – từ một chuyến đi chung đến những ngả rẽ nghiệt ngã sau đêm Hòn Hèo.
Tàu C235 do Thuyền trưởng Nguyễn Phan Vinh chỉ huy đang trên đường vận chuyển vũ khí vào vùng biển Hòn Hèo-Khánh Hòa ngày 28/2/1968. (Ảnh do máy bay địch chụp)
Tàu C235 do Thuyền trưởng Nguyễn Phan Vinh chỉ huy đang trên đường vận chuyển vũ khí vào vùng biển Hòn Hèo-Khánh Hòa ngày 28/2/1968. (Ảnh do máy bay địch chụp)
Chuyến đi cuối cùng của C235 là lần thứ hai con tàu tìm đường vào Hòn Hèo trong tháng 2/1968.
Theo Lịch sử Lữ đoàn 125 Hải quân, ngày 6/2/1968, C235 xuất phát thực hiện chuyến đi thứ nhất. Trong hành trình, tàu bị máy bay và tàu chiến đối phương theo dõi. Lúc 12 giờ ngày 11/2, khi vẫn không cắt được sự bám đuổi, Sở chỉ huy điện cho tàu trở lại căn cứ A3.
Sau chuyến đi không thành, tàu được sơn sửa, kiểm tra máy móc, thay đổi một số dấu hiệu bên ngoài để chuẩn bị cho lần tiếp theo.
Tàu C235 được trang bị bốn máy chính, có tốc độ trung bình 22 hải lý/giờ. Ông Mai nhớ con tàu có ra-đa dẫn đường; theo cách ông mô tả, tàu nhẹ, công suất lớn, ưu tiên tốc độ để vào ra nhanh chóng. Mang hơn 14 tấn vũ khí chi viện khẩn cấp cho chiến trường Khánh Hòa dịp Tết Mậu Thân, C235 hướng về bến Hòn Hèo là vùng biển thuộc hai xã Ninh Phước, Ninh Vân (huyện Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa). Luồng vào hẹp, nhiều đá ngầm, có núi cao bao bọc.
Vũng Rô - nơi gần nửa thế kỷ trước những con tàu không số cập bến đưa vũ khí vào khu 5 và gắn liền với “Sự kiện Vũng Rô ” (tháng 2/1965).
Vũng Rô - nơi gần nửa thế kỷ trước những con tàu không số cập bến đưa vũ khí vào khu 5 và gắn liền với “Sự kiện Vũng Rô ” (tháng 2/1965).
Tàu C235 rời căn cứ A3 lúc 11 giờ 30 phút ngày 27/2/1968. Sau hai ngày hai đêm đi trên vùng biển quốc tế, khoảng 18 giờ ngày 29/2, khi tàu ở ngang vùng biển Nha Trang, máy bay trinh sát của đối phương phát hiện C235.
Từ thời điểm ấy, vòng theo dõi bắt đầu siết lại.
Những ký ức của các thủy thủ giúp chúng tôi lần lại chuyến đi cuối cùng của tàu C235. Nhưng gần sáu thập niên đã trôi qua; những nhân chứng còn lại đều đã ở tuổi cao. Cùng với việc tìm gặp từng người, chúng tôi tiếp tục lần tìm những nguồn tư liệu được ghi lại gần thời điểm sự kiện hơn để đối chiếu.
Qua liên hệ với Lữ đoàn 125 Hải quân, chúng tôi tìm tới những tư liệu cũ về tàu C235. Trong số đó có Đường mòn trên biển – ký sự của Nguyễn Tư Đương, NXB Quân đội nhân dân, 1986. Tư liệu cho cuốn sách được tác giả bắt đầu thu thập từ năm 1973, khi hoạt động của những con tàu không số vẫn còn được giữ bí mật.
Đặt những trang sách ấy cạnh lịch sử Lữ đoàn 125 và lời kể của những người sống sót, chúng tôi đối chiếu từng mốc thời gian, tên người và diễn biến. Từ đó, những giờ cuối cùng của tàu C235 dần hiện ra.
Năm 1968, Hòn Hèo là một trong những bến bí mật trên tuyến vận tải chiến lược Đường Hồ Chí Minh trên biển. Bên cạnh lực lượng địa phương, tại đây có Đội trinh sát mang mật danh HB19 do Lê Đình Kiến chỉ huy, làm nhiệm vụ quan sát, nắm tình hình trên biển, phối hợp với lực lượng bến đón tàu, tiếp nhận và cất giấu vũ khí từ những chuyến tàu Không số. Trong đội hình ấy, Đặng Văn Hải là chiến sĩ báo vụ; Thiếu úy Huỳnh Hường, một cán bộ Hải quân dạn dày kinh nghiệm, làm nhiệm vụ trinh sát bám địa bàn.
Khoảng 20 giờ ngày 29/2, C235 chuyển hướng vào bờ. Máy bay đối phương vẫn bám theo, nhưng chỉ huy tàu quyết định tiếp tục tiến vào bến. Theo lịch sử đơn vị, đối phương điều các tàu chiến và hải thuyền đến vùng biển phía bắc Nha Trang, với ý định bắt giữ con tàu.
Đường mòn trên biển (NXB Quân đội nhân dân, 1986) kể rằng, khoảng 23 giờ 30 phút, các tàu truy đuổi chủ động tắt hết đèn hành trình, dùng ra-đa âm thầm bám sát C235. Trong bóng tối, C235 bất ngờ bắt được thông tin qua máy bộ đàm của đối phương: một chiếc tàu Việt Cộng chạy vào hướng nam đang mất dấu; các tàu được yêu cầu tuần tra cẩn mật, tàu không có đèn được coi là tàu Việt Cộng.
Theo diễn biến được kể trong sách, C235 vượt qua bãi đá ngầm có độ sâu chừng 10m sát Cam Ranh rồi ngoặt lên Hòn Một. Khi tiếp cận đội hình hải thuyền đối phương, Thuyền trưởng Nguyễn Phan Vinh cho bật đèn hành trình. Con tàu giảm tốc độ, lách qua khoảng cách giữa hai chiếc xuồng truy kích.
Khoảng 0 giờ 30 phút ngày 1/3/1968, C235 tiếp cận vùng biển Đầm Vân. Đường mòn trên biển kể lại: từ đài chỉ huy, Thuyền trưởng Phan Vinh chớp đèn tín hiệu gọi bến, một lần, hai lần, rồi ba, bốn lần… Nhưng phía bờ vẫn tối đen, không có tín hiệu đáp lại.
Ở phía bờ, theo hồi ức của ông Lê Đình Kiến, lực lượng ở bến đã trực suốt nhiều ngày tại ba vị trí, có điểm sát Đầm Vân. Nhưng đúng thời điểm C235 vào, bộ phát điện quay tay cấp điện cho đài vô tuyến 15W gặp trục trặc. Máy phát lúc được lúc mất; anh em tháo ra sửa rồi thiết bị hỏng hẳn. “Anh em trạm gác nhìn thấy tàu mình vào mà không sao liên lạc được”, ông Kiến nhớ lại.
Tư liệu về hoạt động của lực lượng bến còn ghi: Trong đêm 29/2, từ đài quan sát Hòn Đăng, Thiếu úy Huỳnh Hường phát hiện một con tàu từ phía mũi Bàn Thang tiến về Đầm Vân. Nhận định đó là tàu ta, ông vội vã vượt dốc đá trở về đơn vị báo tin.
Trên C235, sau nhiều lần phát tín hiệu không nhận được hồi đáp, Thuyền trưởng Nguyễn Phan Vinh quyết định cho thả hàng xuống nước để lực lượng ở bến vớt sau.
ĐIỆN BIỂU DƯƠNG GIỮA TIẾNG BÁO ĐỘNG
Đường mòn trên biển thuật lại: sau khi C235 báo cáo đã thả hàng xong, sở chỉ huy Đoàn 125 gửi điện biểu dương. Trên tàu, giữa tiếng chuông báo động và những lời gọi về vị trí chiến đấu, vang lên tiếng gọi: “Anh Vinh đâu? Điện của đoàn chúc mừng thắng lợi của tàu chúng ta”.
Khoảng 1 giờ 30 phút sáng 1/3, để bảo vệ an toàn cho khu vực vừa thả vũ khí, Thuyền trưởng Nguyễn Phan Vinh cho ngừng thả hàng, điều khiển C235 cơ động chạy ven bờ về phía Ninh Vân, nghi binh kéo sự chú ý của đối phương ra xa khu vực vừa thả hàng.
Ngay lập tức, 7 tàu chiến đối phương cùng máy bay thả pháo sáng rực đỏ bầu trời, khép chặt vòng vây. Phía trước C235 là vách đá sừng sững của núi Hòn Hèo, phía sau là mạng lưới hỏa lực dày đặc chặn đứng đường ra biển.
Lịch sử đơn vị và những ghi chép trong Đường mòn trên biển (NXB Quân đội nhân dân, 1986) mô tả: Đội hình tàu nhỏ của địch càn quét tuyến trong, súng 12,7mm và pháo tự động xối đạn liên tục vào C235 nhằm khống chế, bắt sống con tàu; hỏa lực hạng nặng từ các khu trục hạm phía ngoài bắn chặn lên bờ, ngăn đường rút lui.
"BẮN!" — Mệnh lệnh đanh thép của Thuyền trưởng Phan Vinh vang lên trên đài chỉ huy.
Trên tàu, Hà Minh Thật, Nguyễn Văn Phong và đồng đội dùng DKZ, súng 14,5mm đánh trả, ngăn các tàu truy kích áp sát. Chiếc tàu địch trúng đạn bốc cháy khói đen nghi ngút, chệch hướng quay tròn trên sóng.
Ông Phong nhớ, mỗi lần quay khẩu súng về hướng mục tiêu, đạn đối phương lại găm vào tấm chắn nghe “rôm rốp”. Lâm Quang Tuyến, người tiếp đạn cho ông, bị thương ở tay nhưng vẫn chuyển những dây đạn tới vị trí chiến đấu.
Sau gần nửa giờ giao tranh dữ dội, C235 đã đánh dạt các tàu nhỏ đối phương ra xa. Nhưng tổn thất của ta vô cùng nặng nề: 5 đồng chí hy sinh, 2 người bị thương nặng, 7 người bị thương nhẹ; toàn tàu chỉ còn 6 người lành lặn.
Đầu quấn băng trắng đẫm máu, tay xách khẩu tiểu liên AK, Thuyền trưởng Nguyễn Phan Vinh đi kiểm tra từng vị trí chiến đấu và tuyên bố:
“Chúng ta sẽ chiến đấu đến hơi thở cuối cùng trên con tàu này”. Ông quyết định thực hiện phương án hai: khi bị lộ, cho tàu chạy thẳng vào cảng Nha Trang, áp tàu mình vào tàu địch hoặc áp sát vào cảng, rồi giật kíp cho 3 tấn bộc phá đã gài sẵn, phá hủy tàu mình đồng thời phá luôn bến cảng và tàu địch.
C235 lao ra cửa vịnh. Một quả đạn pháo trúng gần buồng máy tàu chậm lại. Thợ máy Vũ Long An lên buồng lái báo cáo: “Máy tàu hỏng nặng”.
Phương án hai không thể thực hiện.
Thuyền trưởng Phan Vinh bình tĩnh điều khiển con tàu trôi dạt vào sát bờ đá Bà Nam, cách bờ khoảng 200m để chuẩn bị phương án hủy tàu tại chỗ và đưa thương binh lên bờ.
Cựu chiến binh Lê Duy Mai xúc động chia sẻ câu chuyện.
Cựu chiến binh Lê Duy Mai xúc động chia sẻ câu chuyện.
Trong hồi ức về Tàu 235 và trận chiến sinh tử, ông Mai ghi lại mệnh lệnh của thuyền trưởng:
“Đánh bộc phá tại tàu!”
Lúc này là 2 giờ 20 phút sáng. Chuông báo động phá tàu kéo dài rền rĩ. Trong buồng hàng hải ngột ngạt, Thuyền phó Đoàn Văn Nhi đứng tựa vào bàn hải đồ, máu chảy thành vũng dưới chân. Máy trưởng Trương Văn Mùi nằm co dưới sàn, một tay đặt lên vết thương ở ngực, tay kia vẫn nắm chặt.
Giữa tiếng chân chạy và tiếng giục giã gấp gáp, có tiếng giục đưa Chính trị viên Nguyễn Tương xuống phao cứu sinh. Thủy thủ Nguyễn Minh Hải bị thương cả hai chân, nhất quyết không chịu rời tàu:
“Đằng nào tôi cũng chết, để cho tôi chết ở trên tàu”.
Thuyền trưởng Phan Vinh nghiêm giọng: “Tôi là thuyền trưởng hạ lệnh, anh có chấp hành không?”
Nguyễn Minh Hải lo mình trở thành gánh nặng cho đồng đội. Phan Vinh vẫn yêu cầu đưa ông lên phao cứu sinh. Giữa tiếng súng, những lời nhắc mang theo súng đạn, thêm người đẩy phao tiếp tục vang lên.
Vũ Long An và Ngô Văn Thứ theo Phan Vinh xuống buồng máy. Thuyền trưởng yêu cầu: “An đóng kíp, rút chốt an toàn. Bình tĩnh làm thật cẩn thận.” Một tay Ngô Văn Thứ bị thương, máu nhỏ giọt; tay còn lại ôm chặt chân Vũ Long An để người thợ máy nhoài xuống hầm tàu. Khi Vũ Long An nhoài lên, giơ chiếc chốt an toàn, Phan Vinh yêu cầu: “Vặn kíp hẹn giờ 15 phút.”
Tại khoang máy sau và hầm lái, thợ điện Lê Duy Mai phát hiện Trần Lộc bị thương nặng nên chủ động nhận thay nhiệm vụ: "Để tôi thay anh đánh bộc phá khoang máy sau và hầm lái". Nhận phần việc nguy hiểm này, ông Mai đã xác định tâm thế hy sinh. Bốn chân vịt cũng nằm trong phương án phá hủy, nhằm không để đối phương chiếm lấy con tàu.
Cuộc đối thoại sau khi điểm hỏa được ông Mai ghi lại. Thuyền trưởng hỏi:
“Chắc ăn chưa?”
“Chắc.”
Khi các vị trí đã hoàn tất phần việc, thuyền trưởng Phan Vinh giục:
“Các cậu xuống trước đi, mình còn kiểm tra lại xem.”
Trên boong, Nguyễn Văn Phong và Lâm Quang Tuyến vẫn ngoan cường bám khẩu pháo 14,5mm bắn trả máy bay địch. Phan Vinh đi tới vỗ vai Lâm Quang Tuyến: "Thôi bắn, rời tàu".
Nhưng chính từ đây, ký ức của những người sống sót bắt đầu để lại một khoảng trống.
Chúng tôi hỏi ông Mai có nhớ chính xác giờ mình rời C235 không. Ông đáp:
“Tôi không xem đồng hồ nên không biết mấy giờ.”
Với ông Phong, chúng tôi hỏi lúc xuống nước, ông có biết ai còn ở lại trên tàu, ai là người rời C235 cuối cùng không. Ông nhớ mình mang theo khẩu AK và băng đạn, nhảy xuống biển rồi tìm cách bơi vào bờ. Còn ai rời tàu sau mình, ông không xác định được.
Tàu C235 bốc cháy sau khi bị Hải quân Mỹ và Việt Nam Cộng hòa tấn công.
Tàu C235 bốc cháy sau khi bị Hải quân Mỹ và Việt Nam Cộng hòa tấn công.
Tư liệu lịch sử ghi năm người đã hy sinh trước khi C235 được lệnh hủy tàu. Đối chiếu với lời kể của những người sống sót, chúng tôi vẫn chưa làm rõ đầy đủ danh tính và vị trí cuối cùng của từng người trong số đó.
Về những người rời tàu sau cùng, Lịch sử Lữ đoàn 125 Hải quân ghi: Thuyền trưởng Nguyễn Phan Vinh cho mọi người xuống trước, kiểm tra lại lần nữa rồi cùng thợ máy Ngô Văn Thứ nhảy xuống nước, bơi vào bờ.
Khoảng 2 giờ 40 phút sáng 1/3/1968, khối bộc phá trên C235 phát nổ.
Một cột lửa khổng lồ bùng lên rực đỏ cả góc trời Hòn Hèo, tiếp theo là tiếng nổ dữ dội làm rung chuyển vách núi Bà Nam và mặt biển Đầm Vân. Sức nổ khủng khiếp xé đôi con tàu C235: Phần thân tàu chìm xuống lòng biển, có một phần văng lên lưng chừng núi đá Bà Nam.
Ông Lê Duy Mai nhớ lại, khi ông vừa bơi vào đến gành đá có thể đứng chân được thì tàu nổ. Sức nổ hất những chiếc phao tròn trên tàu văng tới tận chỗ ông đang đứng.
Nguyễn Văn Phong và Lâm Quang Tuyến bị sóng xung kích hất vọt lên bờ đá choáng váng. Tỉnh lại, nhìn ra mặt vịnh chỉ còn vệt lửa cháy loang trên sóng, Lâm Quang Tuyến lẩm bẩm: "Tàu nổ rồi..."
Tiếng nổ rạng sáng 1/3/1968 khép lại hải trình của Tàu C235, nhưng những ngả rẽ sinh tử còn tiếp diễn trên bờ Hòn Hèo. Trong số 20 cán bộ, chiến sĩ của chuyến đi: 14 người đã anh dũng hy sinh; 6 người sống sót.
Tiếng nổ rạng sáng 1/3/1968 khép lại hải trình của Tàu C235, nhưng những ngả rẽ sinh tử còn tiếp diễn trên bờ Hòn Hèo. Lời kể của những người trở về giúp tái hiện những giờ phút cuối cùng trên con tàu huyền thoại. Nhưng sau đêm lửa ấy, ai được tìm thấy trên những gành đá, sườn núi Hòn Hèo? Ai đã được chôn cất và dấu vết nào còn lại để lần tìm?
Để tìm câu trả lời, cuộc hành trình phải tiếp tục từ một lớp nhân chứng khác: những người ở bến Hòn Hèo...
“Họ đã nổ súng đến viên đạn cuối cùng, đến người cuối cùng...”
Nguồn: Lướt sóng, được dẫn lại trong Lịch sử Lữ đoàn 125 Hải quân
(Còn nữa...)
NGUỒN TƯ LIỆU:
[1] Đảng ủy Lữ đoàn 125, Lịch sử Đảng bộ Lữ đoàn 125 Hải quân (1961–2019), NXB Quân đội nhân dân, phần về Tàu C235.
[2] Ký sự Đường mòn trên biển của Nguyễn Tư Đương, NXB Quân đội nhân dân, 1986; lời kể của Đại tá Trần Phong – nguyên cán bộ tham mưu tác chiến Đoàn 125 giai đoạn 1968; cùng lời kể của các nhân chứng C235 mà phóng viên tiếp cận.
Ngày xuất bản: Tháng 10/2026
Thực hiện: Ngọc Thanh-Hoàng Nhật-Tùng Quang-Hồng Vân-Thùy Linh
Ảnh: Thùy Linh
(Bài viết có sử dụng tư liệu của Bảo tàng Hải quân và Lữ đoàn 125 cung cấp)
Bài 1: Những người cuối cùng rời Tàu C235
Bài 2: Những ngôi mộ không tên
Bài 3: Ba mươi năm mới biết cha nằm lại ở Hòn Hèo
Bài 4: Những ngôi mộ chưa tên và dấu tàu dưới biển
Bài 5: Lời gọi từ lòng biển và nhịp sóng Phan Vinh
