Phạm

Có những mối quan hệ khác giới vẫn giữ giới hạn ở tình bạn khiến người ta rung động vì sự đẹp đẽ, trong trẻo. Truyện ngắn Phạm của tác giả Trần Nguyễn Anh kể về một tình bạn như thế. Cốt truyện đơn giản, thành công với lối viết giản dị mà nhiều cảm xúc. Người đọc như thấy bóng dáng tuổi trẻ mình trong đó, thảng nghe đâu đây hương thơm của những tâm hồn trẻ.

Lời bình của nhà văn Nguyễn Văn Thọ

 Minh họa: THÀNH CHƯƠNG
Minh họa: THÀNH CHƯƠNG

Tôi quý Phạm từ cái nhìn đầu tiên, theo cái mà người ta thường nói. Tôi chưa bao giờ nghĩ mình là người yêu của Phạm mà chúng tôi cũng rất ít khi nói chuyện với nhau.

Chúng tôi cùng học một trường cấp 3, tôi dân miền trung gốc gác dưới gốc gạo, còn Phạm theo cha mẹ chuyển đến vùng tôi từ nơi nào đó ngoài xứ bắc. Thú thực tôi không quảng giao và bị họ hàng đánh giá là “khó gần”, hay sống kiểu “con nhà lính tính nhà quan” đi sau, về trước. Ấy vậy mà lần đầu tiên nhìn thấy Phạm, tôi đã đứng rất lâu, lâu hơn mức bình thường thật nhiều, ngay ở cửa sổ để nhìn người bạn học mới ở lớp M.

Một cô gái không cao lắm, dáng đậm, người chắc chắn, mái tóc buộc túm. Giờ giải lao, đám bạn ngồi túm tụm dưới gốc phượng xanh mướt. Phạm lại vui đùa với đám con trai. Họ nói chuyện với nhau như thể thân thiết lắm, dù cô bạn mới vừa đặt chân đến trường tôi bữa đầu tiên. Cô bạn mới không nhìn thấy tôi sau cánh cửa kính vỡ, một mình ngồi trong lớp với cuốn sổ ghi vội bài văn về ruộng khoai tây mới khai phá ngoài đê. Những củ khoai tây tròn trịa, nằm sâu dưới những bụi lá xanh xanh như bí ẩn nho nhỏ của đồng quê. Tôi ngẩng lên và thấy cô bạn mới đang tâng bóng với đám con trai lớp M. Tôi thích thể thao đến mức nằm mơ cũng tưởng mình là trái bóng nhưng tâng bóng thua xa cô bạn tóc túm. Không biết cô này học tâng bóng lúc nào và học để làm gì chứ, trường tôi chỉ nhiều đội bóng đá nam thôi.

Tôi nhớ mãi dáng Phạm mềm mại tâng bóng, đôi chân vươn dài và mái tóc phất phơ trong gió. Hoa gạo trên trời rụng xuống tả tơi trong cơn gió và đàn chim cu rừng mầu xanh bay trên cao. Tiếng vỗ tay không dứt từ các bạn nam còn đám nữ nhíu mày thậm thọt những lời châm chọc. Người bạn mới không quan tâm gì tới những ì xèo của đám tóc dài, vẫn bình thản tâng bóng lên con số hơn 50 trái và cảm như quả bóng không bao giờ rời khỏi chân cô ta cho đến khi giờ giải lao kết thúc. Nhân vật mới ấy dĩ nhiên sở hữu kỷ lục tâng bóng của trường, nơi đám con trai vẫn tự hào với chiến tích cùng trái bóng tròn. Đám chúng tôi không biết phải nghĩ gì vào lúc này. Quái kiệt. Hừm, trò tâng bóng không còn là trò đặc hữu của đám con trai nữa và với tài tâng bóng như vậy hẳn kỹ thuật chơi bóng của nhân vật mà chúng tôi chưa biết tên này hơn hẳn tất cả chúng tôi rồi.

“Tớ tên là Phạm” - cô bạn nói khi đi qua cửa sổ vỡ. Tôi bảo đây không phải tên. Cô bạn nheo mắt: “Họ của bố tớ. Bố tớ là huấn luyện viên bóng đá, nhưng ông ấy mất rồi”. Cô bạn mới như cơn gió thoảng qua hay như một tiền đạo thoắt ẩn, thoắt hiện vậy. Tôi nhìn xuống bài văn tả cánh đồng khoai tây và thấy mình vừa viết vài câu về chiến thuật bóng đá mới nghĩ trong đầu. Tại sao nhỉ, bóng đá chỉ là một môn của sức mạnh ư? Bóng đá không chỉ chứa đựng trong nó nam tính mà giờ đây là cả nữ tính nữa. Trái bóng ngày thường như viên đại bác, giờ đây nom nó thướt tha trên sân trường dưới tài điều khiển của Phạm, như một nụ hoa trong gió, như một mặt trăng hiền lành và gần gũi hơn nhiều. Ấn tượng của tôi về trái bóng là những bàn thắng, những cái chân bó bột, còn giờ đây nó là hình ảnh về sự điệu đà kín đáo và sự kiên nhẫn, bất cần.

Mọi sự đã kết thúc tốt đẹp hơn nhiều với chúng tôi nếu như cả hai đứa cùng vào đại học. Thật xấu hổ nếu nhận mình học thua kém cô bạn nữ nhưng tôi biết, nếu người đậu đại học điểm cao nhất sẽ là nữ cầu thủ duy nhất của trường tôi. Phạm có tài phán đoán đề và giải quyết đề rốt ráo như một tiền đạo luôn chọn được vị trí ít ai ngờ nhất để ghi bàn thắng quyết định vậy. Tôi nghĩ nhiều viễn cảnh lắm. Chẳng hạn hai đứa sẽ rời cái làng quê lắm dị nghị này, nơi những người con gái chơi bóng đá bị xem như những kẻ ngạo ngược thậm chí có vấn đề về giới tính. Chúng tôi sẽ bỏ lại mọi thứ để sống trong một thành phố văn minh nơi những trận bóng đá nữ được tổ chức, biết đâu đấy, chúng tôi sẽ cùng nhau đi cổ vũ và ngất ngây cùng chiến thắng của đội bóng nữ trường đại học. Thậm chí, với cái gen di truyền từ bố, bạn tôi sẽ đeo băng đội trưởng. Mơ ước thi đấu trong đội bóng đá nữ sẽ trở thành hiện thực và Phạm sẽ ghi những bàn thắng vào lưới đội nữ chứ không phải cứ đá vào đội nam như khi ở trường chúng tôi.

Tôi nghĩ, khoa mà Phạm nên thi là giáo dục thể chất hoặc khoa sinh vật. Nhưng Phạm cũng giỏi cả ngoại ngữ lẫn toán, viết văn gọn gàng, nhiều nét mới, khả năng nhớ sự kiện trong môn sử cũng không ai theo kịp. Thiệt thòi duy nhất của Phạm không phải ở trường. Mẹ của Phạm muốn đi bước nữa, nhưng ngại con gái của mình không đồng ý. Người đàn ông vẫn theo đuổi bà đang chờ Phạm rời khỏi nhà, đi học xa, khi đó họ tiện công khai tình cảm, mà nguyện vọng của ông ấy muốn rước mẹ về sống cùng nhà mà chăm ba đứa con nhỏ bơ vơ bởi mẹ chúng qua đời đã mấy năm. Khác với chúng tôi, Phạm xem việc đậu đại học như một sự giải thoát, một giải pháp cho mẹ và dượng, một kết thúc có hậu cho một cô bé cần tương lai hơn quá khứ của mình.

Hóa ra tôi đã nhầm. Phạm mạnh mẽ hơn tôi nghĩ nhiều. “Tớ không bao giờ cưới chồng cho mẹ, nhưng tớ không phản đối việc mẹ đi lấy chồng”. Ngày đăng ký thi đại học, Phạm không tới. Sao nhỉ? Sẽ ảnh hưởng đến thành tích học tập của trường đấy, sẽ giảm đi một chỉ tiêu vào đại học mà chúng tôi phấn đấu trong năm nay. Phạm ở nhà giúp mẹ làm vườn. “Tớ đã chọn trường cho mình rồi” - cô bạn nói với tôi dưới hàng xoan đang nở hoa trắng.

Tôi vào đại học, tham gia đội bóng của trường, đá ở vị trí tiền vệ. Tôi kiến thiết bóng và đôi khi thầm ước nếu tiền đạo là Phạm thì hẳn những đường chuyền của tôi sẽ kết thúc có hậu hơn nhiều. Khả năng dứt điểm cũng như một bản năng thiên phú mà người ta chỉ chiêm ngưỡng được chứ không đào tạo được. Phạm không dứt điểm hai lần giống nhau nhưng bàn thắng rất nhiều. Đôi khi tôi nghĩ, người cầu thủ phải hiểu trái bóng mà điều ấy Phạm làm tốt hơn chúng tôi.

“Có khách tới thăm đấy” - bảo vệ khu ký túc xá nhắn. Tôi không biết người tới thăm là ai. Từ khi vào đại học tới giờ đã vài năm, chưa ai tới thăm tôi mà tôi cũng chẳng thèm thăm hỏi ai. Tính mình nó khép kín vậy, trừ khi trên sân bóng. Tôi đi xuống cầu thang, tay vẫn không rời cuốn giáo trình vừa mượn được ở thư viện, vừa đi vừa vịn cầu thang, sợ ngã. Tranh thủ từ tầng 6 xuống đất cũng đọc thêm được dăm trang.

Phạm đợi tôi ở sân ký túc xá. Cũng như mọi khi, người ta túm tụm lại nhìn cô ấy. Người chỉ trỏ, người thì thầm. Phạm đến thăm tôi, bộ đồ quân ngũ đã bạc mầu sau hai năm trên thao trường bãi tập, chiếc ba-lô mầu xanh đã muốn bạc và bộ đồ mầu xanh lá cây cũng phai mầu. Chiếc mũ bộ đội lấp lánh ánh sao và đôi mắt vẫn biêng biếc như mắt con chim cu rừng mầu xanh, hiền lành, kiên nhẫn. “Ra thế đấy! yêu bộ đội” - các bạn cùng trường đi qua nói với tôi. “Sao không đi bộ đội mà lại để người yêu phải xông pha thế kia” - vài cô bạn gái châm chọc.

Ừ nhỉ! Tôi nói với Phạm khi hai đứa đi ăn cơm ở nhà ăn khu ký túc xá. Lẽ ra mình cũng nên nhập ngũ cùng bạn. Phạm cười cười: “Nhập ngũ chắc gì đã cùng một đơn vị”. Còn đá bóng không? Tôi không thể rời bỏ cái hình ảnh nữ cầu thủ mặc áo lính. Phạm bảo: “Mình vào bộ đội không phải để đá bóng! Muốn được làm người lính thực sự, không qua phim ảnh”. Chắc bắn giỏi lắm. Bảo: “Không giỏi thì làm gì có phép mà xuống thành phố thăm bạn. 3 điểm mười mà”.

Khi chúng tôi đang ăn, nhiều bạn bè sinh viên đến chụp hình chung với Phạm. Họ hỏi về cuộc sống quân ngũ. Tôi học ở khoa văn, một vài bạn còn muốn phỏng vấn Phạm và thậm chí viết thơ về Phạm nữa. Tôi tự hào về người bạn thân của mình. “Bạn cũng làm thơ chứ?” Ai đó hỏi. Dĩ nhiên rồi, tôi giới thiệu. Phạm đứng lên đọc một bài thơ tả cảnh thao trường. Bài thơ khá dài, tôi không nhớ được nhiều, bởi tốc độ của thơ sao nhanh quá, sáng trưa chiều tối, cuộc đời người lính trải bao công việc, thử thách. Tôi chỉ nhớ hình ảnh đêm về, nhìn vầng trăng qua cửa sổ, chợt thấy trên mặt trăng có hình cây gạo đỏ như mầu của quê hương.

“Vất vả lắm phải không?”

Tôi hỏi Phạm khi hai đứa đi dưới tán cây của bảo tàng quân khu, nơi những chiếc xe tăng không người lái ngắm nhìn chúng tôi. Phạm bảo: “Vào lính mà không vất vả thì vào làm gì”. Tôi lấy làm tiếc rằng bạn tôi vào lính nhưng mẹ không đi bước nữa vẫn sống vậy. Hẳn chúng tôi nghĩ sai về bà cụ, sợ bà ấy giận chứ. Bạn tôi không nói gì. Chúng tôi cứ đi giữa những pháo, máy bay, bom, súng cối... tất cả đều là vũ khí thật chứ không phải đạo cụ của một vở kịch sinh viên. “Biết lái xe tăng chưa?” tôi đùa. Phạm bảo: “Mình là quân y. Sau này bạn bị ốm, bị đau, thậm chí bị thương thì tớ sẽ xử trí”.

Hừm, làm người lính, bị thương, được quân y chăm sóc. Cuộc sống của người trong quân ngũ khác chúng tôi nhiều quá. Ngoài đời mà ốm đau thì tự chữa, ra tiệm thuốc tây hoặc tìm các bệnh viện. Tôi nghĩ đơn vị bộ đội giống như lớp học của chúng tôi năm nào, nơi người ta không bao giờ rời xa nhau, họ sẽ ở bên nhau trong lúc vui vẻ cũng như khi khó khăn. Đám chúng tôi nhiều ước mơ lắm, nào trở thành nhà văn, giám đốc, nghệ sĩ, nhà kinh doanh, thậm chí làm lãnh đạo cấp này nọ. Mọi thứ thành công đều là của riêng mình. Còn ốm đau ư? Chúng tôi không tới trạm quân y mà sẽ theo bảo hiểm y tế hoặc vào các bệnh viện với những cơ sở vật chất như khách sạn hạng sang.

Phạm đưa tôi một ít tiền. Tôi từ chối. Phạm bảo: “Tớ về đây để đưa tiền cho bạn mua sách vở mà. Thú thật, trong quân ngũ đã đánh mất thói quen tiêu tiền”. Tôi lại hỏi vậy suy nghĩ thường trực là gì? “À - Phạm cười - chỉ nghĩ đến chiến thắng thôi”. Ra vậy, tôi bảo : “Giống như trong bóng đá nhỉ”. Lẽ ra mình phải gửi tiền cho Phạm. Ngoài thời gian học, tôi chơi nhạc trong một band nhạc trong thành phố và số tiền kiếm được đủ mọi chi tiêu. Tôi muốn mua tặng Phạm gì đó nhưng bạn tôi lại bảo: “Những thứ tớ dùng trong đơn vị thì bên ngoài không bán, cái bên ngoài bán, chúng tớ lại không được dùng”.

Tôi tặng Phạm một cây đàn ghi-ta. Đôi khi band chúng tôi chơi một bản nhạc nói về cây đàn ghi-ta trong đại đội và bài hát này được khán giả rất khoái. Phạm kêu món quà khá cồng kềnh, chiếc ba-lô đã căng cứng rồi. Khi chúng tôi ra ga tàu, mọi người đều nhường bước, tôi cảm ơn, mọi người bảo: “Chúng tôi không nhường đường cho anh, mà nhường đường cho cô bạn của anh”. Một đứa nhỏ còn chạy theo cố gảy lên vài nốt nhạc trên cây đàn với chữ ký tặng của tôi.

Tôi nghĩ chúng tôi cần sách vở, Phạm cần súng đạn. Tôi không thể tặng bạn tôi món quà mà chúng tôi không có ấy. Tôi biết cây đàn sẽ theo bạn tôi đến vùng núi xa xôi rét mướt, nơi những cây gạo ven đường vẫn nở hoa và biết đâu đấy, đôi khi Phạm vẫn tâng những bông hoa gạo như tâng trái bóng bé xíu trên đường hành quân. Chợt nhớ năm lớp 12, bỗng nhiên nhờ mình dạy chơi đàn ghi-ta. Cô cầu thủ học rất nhanh, mà chỉ học đệm hát thôi. Giọng hát khỏe khoắn, vui nhộn. Phạm hát những bài dân ca rất hay, như bài Bèo dạt mây trôi, hay bài Người ở đừng về.

Tôi trở về từ ga tàu và chỉ còn biết tự trách mình tại sao không tặng bạn thêm vài bộ dây đàn dự phòng nhỉ. Cần một cơ số dây chừng dăm bộ. Đường đi xa xôi, lỡ dây đàn đứt, lên rừng biết nơi đâu mà mua. Tôi cũng chưa kịp hỏi địa chỉ đơn vị và liệu mình lên thăm thì tiện hay không? Công việc trạm quân y chắc bận rộn lắm. Những người lính mới làm quen với thời tiết khí hậu nơi đóng quân và những bài tập khắc nghiệt, rất cần tới trạm quân y. Phạm sẽ đem lại cho họ sự khỏe khoắn và lạc quan yêu đời. Khi đá bóng ở trường, Phạm không chịu đeo áo số 10 dù đám con trai của chúng tôi bầu chiếc áo ấy dành cho Phạm. Tính Phạm thế, không thích nổi bật, không thích sự thừa nhận. “Mình không hoàn thiện như con số 10 kia đâu” - Phạm nói vậy. Nhưng ai trong đám chúng tôi xứng đáng với chiếc áo kia? Chúng tôi âm thầm tập luyện nhưng chưa ai tâng bóng vượt qua được “nữ quái”.

Tôi vẫn chờ đợi Phạm, như những năm tháng chiến tranh gian khổ chờ đợi người thân yêu trở về từ chiến trường. Lâu lâu, bặt tin tức. Tôi đoán bạn tôi hẳn đã lập gia đình và một mái ấm nơi xa cần cho bạn tôi hơn tất cả. Nhưng tôi vẫn đợi Phạm, như chờ đợi một chuyến về thăm với chiếc ba-lô đã sờn và chiếc mũ vẫn còn vết rách. Những lá thư gửi đi không thấy hồi âm. Tôi vẫn viết. Tôi nghĩ bạn tôi cần cái để đọc, dù trong hoàn cảnh nào, ở đâu.

Thỉnh thoảng tôi lại đem trái bóng mà Phạm tặng tôi hôm về thăm để ngắm nghía. Trái bóng vẫn xẹp lép, chưa một lần lăn trên sân. Nó vẫn nằm nguyên trong bao lưới đã ngả mầu. Tôi cần một người để cùng tâng trái bóng này. Tôi vẫn dành trái bóng cho ngày chúng tôi về lại quê nhà.

Đến mùa xuân, đường phố xanh mướt được trang hoàng rực rỡ khi lễ hội tới và không khí xuân tràn ngập những sân vận động, những nhà thi đấu... tôi một mình thả bộ trên con phố vắng, chiếc ghi-ta cũ kỹ trên lưng. Câu hát đâu đó vang lên xa gần. Tôi thấy mình như đang hành quân cùng bạn tôi, trong một hàng quân, luôn giữ vững cự ly an toàn cần thiết. Đội ngũ chúng tôi vô cùng vô tận. Tôi và Phạm hành quân trong mùa xuân lặng lẽ giữa chiều xuân phảng phất hương trầm và hoa đào.