Những tai biến nguy hiểm đối với phụ nữ mang thai

Tai biến nguy hiểm

Bác sĩ Phạm Văn Hoa, Phó phòng Kế hoạch tổng hợp của BV Phụ sản cho biết: Mấy năm gần đây ở BV Phụ sản Hà Nội, tai biến sản khoa thường gặp nhất là băng huyết và sản giật. Năm 2003, có 35 ca băng huyết, 2 ca sản giật. Sáu tháng đầu năm 2004 có 8 trường hợp tai biến, trong đó có 3 trường hợp bất khả kháng do rau tiền đạo. Nhìn thung, tỷ lệ tai biến sản khoa ở đây không đáng kể, có năm chỉ chiếm 0,02% ca đẻ.

Dù hệ thống y tế đã có nhiều tiến bộ song không ai dám chắc về các rủi ro, tai biến có thể gặp khi sinh đẻ. Đối với ngành y, tỷ lệ rủi ro trong sản khoa có thể chỉ vài ba phần trăm nhưng đối với các sản phụ, mức độ nguy hiểm họ phải chịu là cả trăm phần trăm. Các tai biến sản khoa thường gặp là sản giật, vỡ tử cung, băng huyết, đờ tử cung, tắc mạch ối, nhiễm độc thai nghén.

Chương trình "Làm mẹ an toàn" còn hạn chế

* 28,3% bà mẹ mang thai không đi khám thai lần nào: 60% phụ nữ dân tộc không được chăm sóc trước khi sinh. Có tới 27% tai biến sản khoa không được xử ly tốt, những phụ nữ đẻ khó càng dễ gặp nguy hiểm vì có khoảng 10% Bệnh viện tuyến tỉnh và 21% Bệnh viện tuyến huyện không đỡ được các ca này.

Tại Hội thảo "Vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam" tổ chức hôm 9-6, một trong số những tồn tại cần khắc phục được các đại biểu thống nhất là chương trình làm mẹ an toàn còn hạn chế, việc tiếp cận các dịch vụ y tế của phụ nữ nghèo còn thấp.

Ngoài những thiếu thốn về cơ sở vật chất, nhận thức của người dân nói chung và phụ nữ nói riêng, tại các miền núi hay vùng sâu, vùng xa trong việc thực hiện các quy định mang thai, sinh đẻ an toàn còn yếu kém. Bệnh viện Phụ sản Hà Nội từ năm 2000 đã thành lập phòng Tư vấn trước sinh với chức năng là hướng dẫn thai phụ về các kiến thức liên quan đến thai nghén và sinh đẻ. Ngoài ra, còn tổ chức các chuyên đề khi mang thai, sinh nở và chăm sóc trẻ sơ sinh, lớp tập thể dục tập thở rặn đẻ cho thai phụ.

Theo BS Đặng Thị Nghĩa - phụ trách phòng Tư vấn, hầu hết thai phụ đến tư vấn đều có trình độ học vấn cao, họ thường là giáo viên, phóng viên, viên chức công sở muốn bổ sung các kiến thức khoa học liên quan đến sức khỏe của mình và của con. Điều đáng buồn là những thai phụ khác, nhóm người có học vấn thấp hơn lại thường không mấy quan tâm đến việc tư vấn, chuẩn bị tâm lý và kiến thức khi mang thai và sinh đẻ.

Hiểu biết làm giảm tai biến

Theo các bác sĩ chuyên khoa, phần lớn những tai biến liên quan đến thai sản đều có thể phòng tránh được nếu thực sự quan tâm phát hiện sớm và có các biện pháp cụ thể... Nhưng có loại khó chẩn đoán chính xác hoặc không thể chẩn đoán trước được như trường hợp tai biến tắc mạch ối. Loại tai biến rất nguy hiểm, có tỷ lệ tử vong mẹ cao và thường chỉ cứu được con.

Cũng theo BS Phạm Văn Hoa, tai biến chiếm tỷ lệ nhiều nhất ở BV Phụ sản Hà Nội là băng huyết do đờ tử cung và chảy máu ở tầng sinh môn (sang chấn đường đẻ), thường gặp với các sản phụ thai to. Nhưng có thể hạn chế được tai biến này cũng như các loại tai biến khác tới mức thấp nhất. Thứ nhất, là phải thăm khám một cách hệ thống để tiên lượng cho cuộc đẻ an toàn. Thứ hai, là đội ngũ y bác sĩ phải có kỹ thuật đỡ đẻ tốt để có thể giảm bớt hiện tượng chảy máu. Thứ ba, thai phụ cần được tư vấn tốt về điều kiện mang thai của mình để có chế độ dinh dưỡng hợp lý, mẹ có bệnh tiểu đường dễ có thai to, gây khó khăn khi sinh. Với điều kiện kinh tế xã hội hiện nay, nhất là ở các thành phố lớn, gần như không còn những nguy cơ về nhiễm trùng hay uốn ván xảy ra với mẹ và con nhưng chính môi trường sống lại góp phần gia tăng một số nguy hiểm cho phụ nữ mang thai. Điển hình là tai biến sản giật. Đây là tai biến khó chẩn đoán được trước. Một nguyên nhân chính của tình trạng này là người phụ nữ phải chịu căng thẳng, stress khi mang thai do môi trường sống không bảo đảm, có nhiều tiếng ồn, mất vệ sinh, cuộc sống khó khăn... Stress dẫn đến tình trạng huyết áp tăng và thiếu máu não làm lên cơn giật khi kinh đẻ. Vì thế, phụ nữ mang thai cần nghỉ ngơi thư giãn đủ, cần có môi trường sống yên tĩnh, trong lành.

* Theo ước tính của UNICEF, hằng năm trên thế giới có khoảng 600.000 phụ nữ tử vong có liên quan đến thai sản. Năm 2000, tỷ lệ tử vong mẹ ở Việt Nam vào khoảng 95/100.000 trẻ sơ sinh sống. Nghĩa là mỗi ngày có 7 bà mẹ chết có liên quan đến thai sản, mỗi năm có tới 3.000 phụ nữ chết do thai sản.

* Theo báo cáo của Ngân hàng Thế giới, tỷ lệ phụ nữ sinh con tại nhà trong phạm vi cả nước mặc dù đã giảm từ 23% năm 1997 xuống 16,6% năm 2002, song tại các vùng núi phía bắc và Tây Nguyên, tỷ lệ này còn rất cao. Cụ thể ở Tây Bắc là 64,6% và Tây Nguyên là 40,3%.

Mục tiêu của Bộ Y tế là giảm tỷ lệ tử vong mẹ còn 70/100.000 trẻ sống vào năm 2010. Mục tiêu này có thực hiện được hay không còn phụ thuộc vào việc nâng cao chất lượng phục vụ y tế chăm sóc sức khỏe sinh sản tại các tuyến y tế, đặcbiệt là y tế cơ sở. Bộ Y tế cũng đã có kế hoạch đầu tư 154 triệu USD cho chương trình làm mẹ an toàn giai đoạn 2003-2010 để đào tạo cán bộ y tế về SKSS, bổ sung thuốc thiết yếu để điều trị tai biến và uốn ván sơ sinh, sản giật, nhiễm trùng hậu sản. Đồng thời phải cải thiện môi trường sống, giảm thiểu những ô nhiễm lý hóa về nguồn nước, không khí, ô nhiễm lương thực... Vấn đề còn lại là nhận thức và quan niệm của người dân về sức khỏe sinh sản.

Có thể bạn quan tâm