Dẫn chúng tôi ra tận bãi đất trống ngổn ngang sắt thép chỏng chơ, hoen gỉ giữa đất, bụi và cỏ dại um tùm, ông Ðinh Ngọc Khanh, người dân thôn Tà Lang (xã Hòa Bắc, huyện Hòa Vang, Ðà Nẵng) chỉ tay về phía mấy cây cột điện chơ vơ giữa rừng, mà rằng: "Ngoài sắt thép vứt thành đống, mấy cột dựng lên rồi để vậy, chả biết làm tiếp hay lại tháo đi. Chỉ khổ cho bà con, đất rừng, đất rẫy nằm trong dự án thủy điện, mà mấy năm nay bỏ hoang không cho sản xuất, trong khi dân vẫn chưa nhận được tiền đền bù". Ðể phục vụ cho xây dựng dự án, 120 hộ dân ở hai thôn Tà Lang và Giàn Bí của xã Hòa Bắc (huyện Hòa Vang, Ðà Nẵng), đa phần là bà con dân tộc Cơ Tu, đã phải nhường đất ở, đất sản xuất để xây dựng công trình thủy điện Sông Nam - Sông Bắc. Việc kiểm định, kiểm kê, áp giá đền bù và thẩm định hoàn thành từ cuối năm 2009, nhưng đến nay, mới chỉ một số ít hộ dân trong khu vực giải tỏa để làm đường công vụ và kéo điện nhận được tiền đền bù đợt một, còn lại hầu hết các gia đình vẫn chưa nhận được tiền đền bù. Ðất đai thì bỏ hoang, không được cấy trồng, lại không có tiền để trang trải đời sống hằng ngày, bà con phải vào tận rừng sâu chặt đót, lấy mây gùi về bán kiếm tiền mua gạo. Nhiều gia đình đang đứng trước nguy cơ thiếu đói.
Anh Ðinh Văn Mai, người dân thôn Giàn Bí lo lắng: "Nhìn đất để hoang, cây cỏ mọc um tùm mà xót lắm, nếu tình trạng này kéo dài, chắc bà con lại phải kéo nhau vào phá rừng làm nương rẫy thôi". Chủ tịch UBND xã Hòa Bắc Tăng Hữu Phúc phàn nàn: Ngay từ khi có chủ trương thực hiện dự án, chính quyền và các đoàn thể vận động nhân dân chấp hành tốt chủ trương, tự nguyện phối hợp cơ quan chức năng tiến hành đo đếm, kiểm định đất đai và thực hiện thủ tục thu hồi, với hy vọng nhờ thủy điện mà bà con dân tộc Cơ Tu có cơ hội đổi đời. Thế mà chủ đầu tư chỉ có phương án đền bù đất sản xuất bằng tiền, hoàn toàn không có phương án chuyển đổi, khai hoang hay bố trí đất sản xuất để nhân dân sớm ổn định đời sống. Hình như người ta nghĩ, đền tiền cho dân là xong. Dự án thủy điện triển khai trên địa bàn, chủ đầu tư cũng không hề báo cho chính quyền xã về kế hoạch, tiến độ, thời gian thực hiện... UBND xã đã nhiều lần gửi văn bản đề xuất, nhưng chủ đầu tư vẫn không trả lời. Trong khi đó, 300 ha đất rừng, đất rẫy đang bỏ hoang.
Dự án thủy điện Sông Nam - Sông Bắc do Công ty cổ phần Thủy điện Geruco Sông Côn (gọi tắt là GSC) thuộc Tập đoàn Công nghiệp Cao-su Việt Nam làm chủ đầu tư, tổng vốn 1.412 tỷ đồng, công suất 49,2 MW. Công trình bao gồm ba hồ chứa, với hai tổ máy phát điện riêng lẻ trên hai nhánh sông Nam và sông Bắc, khu vực đầu nguồn sông Cu Ðê, thuộc xã Hòa Bắc, huyện Hòa Vang, TP Ðà Nẵng. Chính thức khởi công từ tháng 6-2010, và theo kế hoạch đề ra thì tổ máy số I phát điện vào năm 2013 và tổ máy số II phát điện vào năm 2014. Thế nhưng đến nay đơn vị thi công mới san ủi đường công vụ, kéo đường dây điện phục vụ thi công rồi bỏ dở. Dự án bị "treo" hơn ba năm nay.
Theo Phó Tổng Giám đốc GSC Ðỗ Trung Hải, có hai nguyên nhân chính khiến dự án dừng thi công. Thứ nhất "từ năm 2008-2009, theo chỉ đạo của UBND thành phố Ðà Nẵng, chủ đầu tư tạm dừng triển khai xây dựng dự án thủy điện Sông Nam - Sông Bắc để cùng các đơn vị liên quan tiếp tục nghiên cứu phương án cấp nước sinh hoạt cho TP Ðà Nẵng, cho nên việc nghiên cứu khảo sát công trình kéo dài một khoảng thời gian nhất định, việc chậm tiến độ so báo cáo đầu tư được duyệt là không tránh khỏi". Nguyên nhân thứ hai được xác định là "... phương án thu hồi rừng tổng thể của dự án đang được thực hiện, nhưng theo yêu cầu của các cơ quan, ban, ngành liên quan, chủ đầu tư cần chuẩn xác lại quy hoạch công trình theo phương án tối ưu để làm cơ sở cho việc thu hồi tổng thể rừng trong khu vực". Ngoài ra, còn một nguyên nhân khác là thủ tục thu hồi đất, giải phóng mặt bằng chưa được hoàn thiện.
Vậy là, theo cách lý giải của chủ đầu tư thì nguyên nhân chậm trễ chủ yếu xuất phát từ phía của chính quyền TP Ðà Nẵng. Nhưng thực tế cho thấy, yêu cầu điều chỉnh thiết kế để kết hợp phát điện với cung cấp nguồn nước sinh hoạt đưa ra trước khi công trình được khởi công gần hai năm. Ðến nay, sau hơn năm năm triển khai, chủ đầu tư vẫn chưa hoàn thành thủ tục chuyển đổi mục đích sử dụng 1.041,33 ha rừng, trong đó có 80 ha mặt nước sông, suối, 239 ha rừng đặc dụng. Ngày 5-9-2011, tức sau hơn một năm sau ngày khởi công thủy điện Sông Nam - Sông Bắc, UBND thành phố Ðà Nẵng mới có Tờ trình số 559 gửi Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về việc điều chỉnh quy hoạch, chuyển mục đích sử dụng đất rừng và đất lâm nghiệp cho dự án thủy điện. Ngày 30-9-2011, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã có Công văn trả lời, nêu rõ: "Diện tích đất rừng đặc dụng mà UBND thành phố Ðà Nẵng xin chuyển đổi hơn 239 ha. Tại khoản 2, Ðiều 3 và khoản 3, Ðiều 10, Nghị quyết số 49/NQ-QH của Quốc hội quy định: Nếu muốn chuyển đổi mục đích sử dụng đất từ 50 ha rừng đặc dụng trở lên thì phải trình Quốc hội quyết định". Ðất rừng đặc dụng chưa được phép chuyển đổi, vì vậy khi đơn vị thi công đưa máy móc vào rừng, đã bị Ban Quản lý (BQL) rừng đặc dụng Bà Nà - Núi Chúa phản ứng quyết liệt. Dùng dằng mãi, đến cuối tháng bảy vừa qua, UBND thành phố Ðà Nẵng mới tổ chức buổi làm việc giữa các bên liên quan để bàn biện pháp tháo gỡ. Giám đốc BQL rừng đặc dụng Bà Nà - Núi Chúa Phạm Ngọc Sự xót xa: Cứ mỗi kW công suất phát điện, Ðà Nẵng phải đánh đổi đến 20 ha rừng đặc dụng vốn đã ít ỏi của mình thì rất lãng phí. Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Ðà Nẵng Trần Viết Phương phân tích thêm: Rừng đặc dụng dù không có nhiều gỗ quý vẫn phải được quản lý, bảo vệ nghiêm ngặt. Việc thu hồi, chuyển đổi mục đích sử dụng rừng để xây dựng thủy điện, số liệu "chênh" nhau. Cụ thể, tổng diện tích được UBND phê duyệt là 948,41 ha, nhưng con số báo cáo của GSC lại là 1.041,33 ha, còn phương án thu hồi rừng thì diện tích lên hơn 1.106 ha. Hơn nữa, đến nay đơn vị quản lý bảo vệ rừng chưa nhận được văn bản hay quyết định nào về việc cho phép chuyển đổi mục đích sử dụng hơn 239 ha rừng đặc dụng. Mặt khác, GSC cũng chưa hề xây dựng phương án trồng rừng thay thế diện tích làm thủy điện. Phó Tổng Giám đốc GSC Ðỗ Trung Hải lại cho rằng, BQL rừng đặc dụng Bà Nà - Núi Chúa cố tình gây khó dễ. GSC đã bỏ ra cả trăm tỷ đồng đầu tư cho các hạng mục ban đầu, vì vậy chính quyền và ngành chức năng của Ðà Nẵng cần chia sẻ với chủ đầu tư về cơ chế để tạo thuận lợi trong việc cung cấp nguồn nước sinh hoạt cho thành phố sau này.
Công trình thủy điện đầu tiên và duy nhất đến thời điểm này của Ðà Nẵng đang "treo" và có nguy cơ "chết yểu", trong khi hàng trăm hộ dân đã tự nguyện nhường đất đai, nhà cửa, ruộng vườn... cho dự án đang hết sức khốn khó. Ðã có nhiều ý kiến quan ngại về những tác động xấu của dự án thủy điện Sông Nam - Sông Bắc đến môi trường, cảnh quan và cả về tính hiệu quả của dự án. Hệ thống sông Cu Ðê của Ðà Nẵng hẹp về lưu vực, sông ngắn và lưu lượng nước không lớn, cho nên việc xây dựng thủy điện khó đạt hiệu quả cao. Bởi vậy, Ðà Nẵng cần tính toán, có những giải pháp kiên quyết, dứt điểm đối với dự án thủy điện Sông Nam - Sông Bắc, sớm ổn định đời sống và sản xuất của nhân dân trong vùng dự án.