Trước làn sóng dịch chuyển chuỗi cung ứng toàn cầu, yêu cầu về phát triển xanh, chuyển đổi số và tiêu chuẩn ESG (môi trường-xã hội-quản trị) ngày càng khắt khe, điều này tạo ra một cuộc tái định hình sâu sắc đối với các trung tâm sản xuất trên thế giới. Thực tế này cũng buộc thành phố phải vượt qua không ít điểm nghẽn về hạ tầng, thể chế và mô hình phát triển đã dần chạm ngưỡng.
Mô hình phát triển truyền thống đang dần lạc hậu
Trong bức tranh kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh sau hợp nhất, không gian phát triển, công nghiệp, logistics và thương mại quốc tế tiếp tục giữ vai trò động lực quan trọng đối với tăng trưởng. Theo Sở Công thương thành phố, lĩnh vực vận tải và kho bãi của thành phố ghi nhận mức tăng trưởng vượt trội 12,7%, tương đương hơn 568.000 tỷ đồng, chiếm 19,1% quy mô kinh tế thành phố. Hệ thống cảng biển hiện đảm nhận từ 70 đến 75% sản lượng hàng hóa cả nước, đạt 356 triệu tấn hàng hóa thông qua. Sản lượng container xuất nhập khẩu đạt 139 TEU, tăng 10% so với năm 2024... Đây là những lợi thế nổi trội của thành phố trong chuỗi cung ứng và logistics khu vực, đồng thời khẳng định vị trí trung tâm sản xuất lớn nhất cả nước, cửa ngõ kết nối hàng hóa Việt Nam với thị trường toàn cầu.
Tuy nhiên, phía sau những kết quả tăng trưởng đó là hàng loạt thách thức đang đặt ra đối với năng lực cạnh tranh của thành phố. Ông Lê Văn Danh, Phó Giám đốc Sở Công thương thành phố cho rằng: Hạ tầng giao thông kết nối giữa các khu công nghiệp, cảng biển, hàng không và trung tâm logistics vẫn chưa đồng bộ. Tình trạng quá tải tại các cửa ngõ giao thông kéo dài thời gian lưu thông, làm gia tăng chi phí logistics và ảnh hưởng trực tiếp đến sức cạnh tranh của doanh nghiệp. Ngoài ra, việc cơ cấu vận tải chưa hợp lý khi đường bộ vẫn chiếm tỷ trọng áp đảo, trong khi tiềm năng vận tải đường thủy nội địa và đường sắt chưa được khai thác tương xứng. Thêm nữa, phần lớn doanh nghiệp logistics trên địa bàn là doanh nghiệp vừa và nhỏ, thiếu những doanh nghiệp đầu đàn có năng lực công nghệ đủ mạnh để dẫn dắt quá trình chuyển đổi số và tham gia sâu vào chuỗi cung ứng quốc tế.
Ở góc độ phát triển công nghiệp, ông Nguyễn Trung Tín, Phó Trưởng ban Ban quản lý các Khu chế xuất và Khu công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh (HEPZA) nhận định: Mô hình công nghiệp truyền thống dựa trên thâm dụng lao động và đất đai đang bộc lộ những giới hạn rõ rệt. Trong khi quỹ đất công nghiệp ngày càng thu hẹp, áp lực hạ tầng đô thị gia tăng khiến cho chi phí sản xuất liên tục tăng cao, điều này cũng tạo nên sự khác biệt lớn khi các nhà đầu tư quốc tế hiện không chỉ quan tâm đến giá thuê đất mà đặt ra những yêu cầu khắt khe hơn về hạ tầng số, năng lượng xanh, quản trị dữ liệu và tiêu chuẩn phát triển bền vững.
Các chuyên gia kinh tế cũng cho rằng: Thành phố đang đối diện nguy cơ “chạm trần phát triển” sớm hơn nhiều địa phương khác do các dư địa tăng trưởng theo mô hình cũ gần như đã khai thác hết. Phần lớn khu công nghiệp hiện hữu vẫn đang vận hành theo mô hình quản lý phân tán, dữ liệu thiếu đồng bộ, nhiều quy trình hành chính còn phức tạp. Những vấn đề này đặt thành phố trước một ngã rẽ quan trọng: Hoặc chuyển đổi mạnh mẽ hoặc đối mặt nguy cơ suy giảm lợi thế cạnh tranh trong cuộc đua thu hút dòng vốn đầu tư chất lượng cao.
Kiến tạo hệ sinh thái thế hệ mới
Trước những yêu cầu mới của thị trường toàn cầu, Thành phố Hồ Chí Minh đang xây dựng chiến lược phát triển theo hướng công nghiệp công nghệ cao, sản xuất thông minh, logistics hiện đại và phát triển bền vững.
Sở Công thương đã tham mưu xây dựng kế hoạch hành động giai đoạn 2025-2035 với các mục tiêu tăng trưởng ngành logistics từ 13 đến 16%, giảm chi phí logistics xuống còn từ 11-14% GRDP, đồng thời phấn đấu có từ 80-100% số doanh nghiệp logistics ứng dụng chuyển đổi số và hình thành ít nhất một trung tâm logistics hiện đại, đẳng cấp quốc tế. Hướng đến mục tiêu này, thành phố định hướng tái cấu trúc không gian logistics theo mô hình ba lớp, chức năng gồm: Logistics quốc tế và liên vùng; logistics trung chuyển phân phối và logistics đô thị. Về hạ tầng, thành phố cũng định hướng nâng cấp hạ tầng theo hướng hiện đại, đơn cử như cảng Cái Mép-Thị Vải và cảng Cần Giờ theo mô hình “siêu cảng số”, ứng dụng công nghệ Digital Twin, Big Data và các nền tảng điều hành thông minh để tối ưu hóa chuỗi cung ứng.
Theo ông Lê Văn Danh, thành phố đang triển khai các chương trình hỗ trợ doanh nghiệp đạt chứng nhận phát thải carbon thấp, chuyển đổi phương tiện vận tải sang sử dụng điện hoặc hydrogen, đồng thời khuyến khích lắp đặt điện mặt trời áp mái tại các trung tâm logistics và cơ sở sản xuất. Đây được xem là điều kiện tiên quyết để doanh nghiệp đáp ứng các tiêu chuẩn ESG và vượt qua những rào cản carbon ngày càng khắt khe từ các thị trường xuất khẩu lớn.
Bên cạnh phát triển hạ tầng cứng, thành phố cũng xác định nguồn nhân lực chất lượng cao là yếu tố quyết định thành công. Trong đó, trọng tâm là phát triển các trung tâm đào tạo logistics hàng đầu khu vực thông qua hợp tác với các trường đại học, viện nghiên cứu và các tổ chức quốc tế. Về mặt tư duy, các chuyên gia cũng nhấn mạnh, thành phố cần thực hiện tư duy liên kết vùng mạnh mẽ hơn khi siêu đô thị hiện nay không bị giới hạn bởi ranh giới hành chính. Việc hình thành chuỗi liên kết giữa thành phố và các cực tăng trưởng, địa phương trong tương lai sẽ tạo nên một hệ sinh thái hoàn chỉnh từ nghiên cứu, sản xuất, logistics đến xuất khẩu, qua đó nâng cao khả năng thu hút các tập đoàn công nghệ và sản xuất hàng đầu thế giới.
Làn sóng dịch chuyển chuỗi cung ứng toàn cầu đang mở ra cơ hội hiếm có để Thành phố Hồ Chí Minh tái định vị vai trò trong bản đồ kinh tế khu vực. Với những tiềm năng, lợi thế, nếu được khai thác hiệu quả sẽ giúp thành phố chuyển mình từ một trung tâm sản xuất truyền thống sang hạt nhân của hệ sinh thái công nghiệp thông minh. Khi hệ sinh thái xanh-số-thông minh được hình thành đồng bộ, Thành phố Hồ Chí Minh không chỉ nâng cao năng lực cạnh tranh của chính mình mà còn đóng vai trò đầu tàu dẫn dắt toàn Vùng kinh tế trọng điểm phía nam, trở thành điểm đến hấp dẫn của dòng vốn FDI chất lượng cao và trung tâm công nghiệp thế hệ mới của khu vực Đông Nam Á.