Ứng dụng công nghệ tiên tiến trong giám sát và truy xuất sản phẩm tôm

Các đại biểu dự hội thảo tham quan khu nuôi tôm theo công nghệ vi sinh tại Công ty cổ phần thủy sản BIM (Quảng Ninh).
Các đại biểu dự hội thảo tham quan khu nuôi tôm theo công nghệ vi sinh tại Công ty cổ phần thủy sản BIM (Quảng Ninh).

Bộ Khoa học và Công nghệ nước ta và Thái-lan vừa tổ chức hội thảo khoa học tại Quảng Ninh với chủ đề: "Ứng dụng công nghệ thông tin và công nghệ RFID (nhận dạng bằng vô tuyến điện) vào quá trình theo dõi giám sát và truy xuất sản phẩm tôm". Hội thảo là hoạt động mở đầu chương trình hợp tác song phương  về khoa học và công nghệ  giữa hai nước.

Một trong những thách thức mà ngành thủy sản các nước đang phát triển gặp phải đó là đối mặt với các điều kiện về vệ sinh an toàn thực phẩm do các nước nhập khẩu thủy sản đưa ra, hoặc theo thông lệ quốc tế.

Mặc dù hầu hết các doanh nghiệp đã áp dụng hệ thống quản lý bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm  theo GMP, SSOP, HACCP... Tuy nhiên các hệ thống quản lý này chỉ được thực hiện ở từng khâu riêng lẻ, thiếu đồng bộ và chưa có khả năng truy xuất nguồn gốc sản phẩm.

Ðiều này dẫn đến hậu quả khi một số lô hàng không đạt chất lượng và bị trả về thì doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn trong việc xác định nguyên nhân để khắc phục.

Hiện nay, việc thực hiện công nghệ xác thực tần số sóng (RFID) ngày càng được ứng dụng rộng rãi trong cuộc sống, nhất là trong lĩnh vực nuôi trồng thủy sản. RFID được dùng cho nhiều khâu, nhất là khâu quản lý, lưu vết và truy xuất nguồn gốc sản phẩm. RFID bắt đầu được ứng dụng vào những năm 40 của thế kỷ trước.

Ðể sử dụng RFID cần có một tổ hợp các thiết bị phần cứng và phần mềm cho phép thu thập thông tin để nhận dạng các sản phẩm trong một phạm vi nhất định. Việc ứng dụng RFID vào quá trình nuôi tôm  bằng cách lưu vết các thông tin  từ đầu vào cho đến các thành phẩm và kết thúc ở người tiêu dùng sẽ cho phép người dùng và nhà quản lý có các số liệu đầy đủ hơn về ấn phẩm, giúp chúng ta kiểm soát nghiêm ngặt  vệ sinh an toàn thực phẩm.

Thứ trưởng Khoa học và Công nghệ Trần Quốc Thắng cho rằng: Hội thảo lần này có thể coi là một trong những hoạt động cụ thể trong nỗ lực chung của Bộ Khoa học và Công nghệ  nhằm tăng cường hiệu quả hoạt động khoa học và công nghệ nói chung và kết quả, hiệu quả của các nhiệm vụ khoa học và công nghệ nói riêng. Chủ trương chung của Bộ Khoa học và Công nghệ là song hành với việc tiếp tục hoàn thiện đồng bộ môi trường pháp lý và cơ chế chính sách để có thể đưa nhanh kết quả nghiên cứu, xúc tiến chuyển giao tri thức và bí quyết công nghệ vào đời sống xã hội  thì cần định hướng các hoạt động hỗ trợ, trong đó doanh nghiệp là chủ thể, là tâm điểm của đổi mới công nghệ, nâng cao trình độ công nghệ để có được những giải pháp cụ thể nhằm đẩy nhanh kết quả nghiên cứu, chuyển giao, làm chủ và đưa những tri thức và công nghệ trong và ngoài nước vào ứng dụng hiệu quả.

Trong khuôn khổ hợp tác song phương giữa hai Bộ Khoa học và Công nghệ Việt Nam và Thái-lan được ký kết vào tháng 6-2007, việc hợp tác chia sẻ tri thức, kinh nghiệm và xúc tiến chuyển giao các công nghệ phục vụ các sản phẩm hàng hóa mà hai bên có những điều kiện tương đồng, được thống nhất và quan tâm hàng đầu. Trong số đó công nghệ truy xuất (TraceCore) là một nội dung được đưa vào hợp tác và giao cho hai đơn vị đầu mối  của hai bên là Cục Ứng dụng và Phát triển công nghệ Việt Nam và Trung tâm Công nghệ điện tử và máy tính Thái-lan (NECTEC) với sự hỗ trợ kỹ thuật của IBM. Thành công và kinh nghiệm của Thái-lan trong làm chủ và áp dụng các công nghệ này cho quy trình theo dõi, giám sát, và truy xuất sản phẩm tôm được ưu tiên đưa vào xem xét để cụ thể hóa nội dung hợp tác.

Theo Tiến sĩ Chu Ngọc Anh, Cục trưởng Ứng dụng và Phát triển công nghệ: Ðáp ứng nhu cầu xuất khẩu hàng thủy sản nói chung, tôm nói riêng, việc áp dụng công nghệ thông tin, và RFID vào hệ thống theo dõi, giám sát và truy xuất sản phẩm tôm ở nước ta là cần thiết. Việc áp dụng này đáp ứng nhu cầu nhập khẩu sản phẩm chất lượng cao, được kiểm soát chặt chẽ. Hơn nữa trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế, nhiều nước đã áp dụng các quy định về truy xuất nguồn gốc sản phẩm. Việc áp dụng hệ thống nói trên sẽ giúp cho các doanh nghiệp thủy sản  đáp ứng được các yêu cầu và rào cản kỹ thuật ngày càng cao của quốc tế, nâng cao hiệu quả, chất lượng sản phẩm.

Giữa Bộ Khoa học và Công nghệ hai nước Việt Nam, Thái-lan đã thống nhất đưa chương trình này vào một trong những nhiệm vụ hợp tác giữa hai nước. Chương trình xây dựng hệ thống theo dõi, giám sát truy xuất sẽ được hai bên thực hiện và khởi động vào năm 2009 bước đầu trong sản phẩm tôm. Ðơn vị cầu nối giữa hai bên là Cục Ứng dụng phát triển công nghệ (SATI) (Bộ Khoa học và Công nghệ) với Trung tâm quốc gia về công nghệ máy tính và điện tử Thái-lan (NECTEC).

Tiến sĩ Pan-sắc, Giám đốc điều hành của NECTEC, cho biết: Tôm là một trong những sản phẩm xuất khẩu chủ lực của Thái-lan, được nuôi  trên một diện tích 80 nghìn ha. Thái-lan hiện đang có 180 nhà máy chế biến tôm với doanh thu khoảng 1,27 tỷ USD (năm 1999). Trước những yêu cầu và biện pháp kiểm soát thực phẩm ngày càng nghiêm ngặt của các nước nhập khẩu, và nhằm mục đích nâng cao chất lượng tôm xuất khẩu, Chính phủ Thái-lan đã tài trợ cho dự án: "Hệ thống theo dõi, giám sát cho ngành công nghiệp tôm". Nội dung chủ yếu của dự án là: Xây dựng hệ thống nhận dạng bằng sóng radio cho việc theo dõi, giám sát tôm; hệ thống liên kết trung gian được xây dựng để hệ thống RFID có thể giao tiếp  với phần mềm cơ sở dữ liệu; phát triển một phần mềm mới quản lý dòng thông tin của RFID để hoàn chỉnh kế hoạch theo dõi, giám sát. Dự án này áp dụng tại một nhà máy công suất 7.000 tấn/năm với khoảng 2,5 triệu bạt (khoảng 1,2 tỷ đồng) cho phần cứng, phần mềm và thẻ RFID cùng máy đọc cho tất cả quá trình của sản xuất.

Thứ trưởng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Lương Lê Phương ủng hộ chương trình hợp tác giữa hai nước và chủ động đưa ra các bước triển khai. Thứ nhất, cần thiết phải thành lập ban chỉ đạo chương trình hợp tác ở cấp trung ương. Ngoài ban chỉ đạo do Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì, các tỉnh có diện tích nuôi tôm lớn như Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Bến Tre, Trà Vinh cần thành lập ban chỉ đạo để điều hành khi chương trình triển khai ở địa phương mình, bên cạnh đó cần một tổ thư ký điều hành chương trình. Thứ hai, ban chỉ đạo  ở trung ương phối hợp Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thông qua các  đơn vị  có  liên quan để đưa chương trình này vào cuộc sống. Thứ ba, chú trọng công tác đào tạo, tập huấn cho cán bộ kỹ thuật các địa phương, trước hết ưu tiên cho các tỉnh mà  ban chỉ đạo chọn làm thí điểm (trong các tỉnh có diện tích nuôi tôm lớn nhất). Thứ tư, thực hiện tốt mô hình thí điểm sau đó tổ chức rút kinh nghiệm và nhân rộng từng bước vững chắc.

Bên lề của hội thảo với sự chủ trì của Bộ Khoa học và Công nghệ, các cơ quan quản lý và doanh nghiệp đối tác hai bên, nhất là có sự tham gia của các doanh nghiệp phần mềm và điện tử đã thảo luận bàn tròn để tập trung chia sẻ kinh nghiệm và làm rõ kế hoạch và các bước có thể hợp tác chặt chẽ giữa Việt Nam và Thái-lan trong chuyển giao, tiếp thu và áp dụng công nghệ truy xuất vào thí điểm trong điều kiện Việt Nam.

Hai bên thống nhất rằng: Các bộ, ngành có liên quan trong nước và đối tác Thái-lan cần xác định được khả năng sẵn sàng tham gia của các bên, thống nhất kế hoạch và các bước chuẩn bị  triển khai thí điểm tại Việt Nam; hiệp hội và các doanh nghiệp thủy sản cần thấy được tầm quan trọng và ý nghĩa  của việc áp dụng công nghệ truy xuất cho các sản phẩm hàng hóa khác nhau  và lợi ích mang lại khi áp dụng cho theo dõi, giám sát và truy xuất sản phẩm tôm; các doanh nghiệp phần mềm và điện tử cần thấy được thị trường và công nghệ cần tiếp cận, thích nghi và làm chủ công nghệ truy xuất (TraceCore).

Có thể bạn quan tâm