Thêm nguồn lực cho doanh nghiệp
Doanh nghiệp nhỏ và vừa hiện chiếm khoảng 98% số doanh nghiệp của cả nước. Theo Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam Nguyễn Văn Thân, đây là lực lượng không thể xem nhẹ. Điều quan trọng nhất với doanh nghiệp nhỏ và vừa là vốn, nhưng còn quan trọng hơn là phải tiếp cận được vốn kịp thời. Dòng vốn ngân hàng không chỉ là nguồn tài chính chủ lực mà còn giúp hiện thực hóa giấc mơ chuyển đổi phương thức sản xuất của các doanh nghiệp nông nghiệp đi theo hướng công nghệ cao.
Giám đốc Công ty trách nhiệm hữu hạn Hoa lan Lan Anh (Lâm Đồng) Nguyễn Tiến Trường chia sẻ, nếu không có sự trợ giúp kịp thời từ vốn tín dụng ngân hàng, doanh nghiệp đã không thể đầu tư và vận hành trang trại chuyên canh hoa lan hồ điệp với hệ thống nhà màng hiện đại như ngày hôm nay.
“Do nằm trên địa hình đồi dốc, chi phí san lấp mặt bằng ban đầu cũng đã lên tới hàng chục tỷ đồng, rồi xây dựng hệ thống nhà màng tiêu chuẩn công nghệ. Trong quá trình vận hành, tiền điện cho hệ thống điều hòa công suất lớn chạy liên tục cũng lên tới hàng trăm triệu đồng mỗi tháng, chưa kể chi phí duy trì lượng tồn kho vật tư cố định khoảng 5 tỷ đồng. Trong khi đó, cây lan hồ điệp phải chăm sóc ròng rã hai năm mới cho thu hoạch khiến áp lực đứt gãy dòng tiền rất lớn”, anh Trường cho hay.
Tính chung trong cả nước, đến nay, dòng vốn tín dụng tiếp tục được hệ thống ngân hàng tập trung cho vay vào lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, các ngành ưu tiên và các động lực tăng trưởng theo chủ trương của Chính phủ. Theo số liệu từ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, đến ngày 29/7, dư nợ tín dụng toàn hệ thống đạt hơn 20,15 triệu tỷ đồng, tăng 8,38% so cuối năm 2025.
Mới đây nhất, trên tinh thần đồng hành, chia sẻ với người dân và doanh nghiệp, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã ban hành Văn bản số 7125/NHNN-TD gửi các ngân hàng thương mại và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chi nhánh các khu vực về triển khai chương trình tín dụng hướng đến các động lực tăng trưởng kinh tế và doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Theo đó, các ngân hàng thương mại được yêu cầu chủ động tiết giảm chi phí, cân đối và bố trí nguồn lực để xây dựng các chương trình, sản phẩm, gói tín dụng phù hợp. Đáng chú ý, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam yêu cầu lãi suất cho vay ưu đãi bằng đồng Việt Nam phải thấp hơn ít nhất 1%/năm so mức lãi suất cho vay bình quân cùng kỳ hạn.
Ngay sau chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, một số ngân hàng thương mại nhà nước đã nhanh chóng công bố các gói tín dụng cụ thể. Agribank triển khai chương trình tín dụng ưu đãi quy mô 70.000 tỷ đồng từ tháng 8/2026 đến năm 2028, với lãi suất giảm từ 1-2%/năm so lãi suất cho vay bình quân cùng kỳ hạn. Đối tượng vay gồm doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp và cá nhân kinh doanh trong các lĩnh vực ưu tiên và động lực tăng trưởng. Cùng thời điểm, BIDV công bố chương trình tín dụng ưu đãi quy mô 50.000 tỷ đồng, áp dụng từ tháng 8/2026 đến hết 12/2028 hoặc đến khi giải ngân hết hạn mức…
Không chỉ giảm lãi suất
Tuy nhiên, thực tế cho thấy khó khăn trong tiếp cận tín dụng không chỉ nằm ở giá vốn. Ông Thân cho hay, lãi suất là yếu tố quan trọng nhưng không phải điều kiện duy nhất quyết định khả năng tiếp cận vốn. Nhiều doanh nghiệp vẫn phải vay bên ngoài với mức lãi suất cao hơn tín dụng ngân hàng. Vì vậy, vấn đề cần quan tâm là tháo gỡ các điều kiện để doanh nghiệp có khả năng đáp ứng yêu cầu vay vốn, đồng thời thiết kế các chương trình tín dụng phù hợp từng lĩnh vực, nhóm doanh nghiệp.
Tiến sĩ Đào Minh Tú, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam cho rằng, ba mong muốn lớn nhất của doanh nghiệp hiện nay vẫn là được tiếp cận nhiều vốn hơn, lãi suất thấp hơn và thời hạn vay dài hơn. Nhưng vấn đề hiện không còn nằm chủ yếu ở việc thiếu cơ chế, mà nhiều hơn ở những khó khăn nội tại của từng doanh nghiệp, từng ngân hàng thương mại cũng như khả năng phối hợp và chia sẻ thông tin để xử lý các vướng mắc phát sinh.
Thực tế tại Agribank cho thấy khả năng hấp thụ vốn đang là một nút thắt đáng lưu ý. Tổng Giám đốc Agribank Phạm Toàn Vượng cho biết, ngân hàng đang đồng bộ các giải pháp tiết giảm chi phí, kiểm soát lãi suất huy động, duy trì mặt bằng lãi suất cho vay hợp lý và ưu tiên nguồn vốn cho sản xuất, kinh doanh, nông nghiệp, nông thôn và các dự án trọng điểm. Tuy nhiên, nhiều khách hàng dù đã được ngân hàng cam kết hạn mức tín dụng vẫn chưa sử dụng hết do vướng mắc về thủ tục pháp lý, đất đai, tiến độ triển khai dự án, chi phí sản xuất và thị trường đầu ra. Điều này cho thấy, nếu các điểm nghẽn ngoài tín dụng chưa được xử lý, việc có thêm hạn mức cho vay hoặc giảm thêm một vài điểm phần trăm lãi suất chưa chắc đã chuyển hóa ngay thành tăng trưởng sản xuất.
Bài toán còn khó hơn khi khả năng cân đối vốn của hệ thống ngân hàng chịu sức ép ngày càng lớn. Theo Tiến sĩ Đào Minh Tú, dư nợ tín dụng của nền kinh tế đã hơn 20 triệu tỷ đồng, trong khi vốn huy động chưa tới 17 triệu tỷ đồng, tạo ra khoảng chênh gần 3 triệu tỷ đồng. Khoảng cách này khiến dư địa đáp ứng thêm nhu cầu vốn của nền kinh tế không phải không có giới hạn.
Diễn biến trên thị trường tiền gửi thời gian gần đây cũng phản ánh sức ép đó. Một số ngân hàng tiếp tục tăng lãi suất hoặc áp dụng chính sách cộng thêm để thu hút tiền gửi, trong khi một số tổ chức tín dụng điều chỉnh giảm sau khi cân đối lại nhu cầu vốn. Theo Công ty trách nhiệm hữu hạn Chứng khoán Vietcombank, áp lực đối với lãi suất huy động vẫn hiện hữu khi chênh lệch giữa tăng trưởng tín dụng và huy động duy trì ở mức cao, trong khi nhu cầu vốn trung và dài hạn tiếp tục gia tăng.
Sức ép có thể rõ hơn vào cuối năm khi nhu cầu tín dụng thường tăng mạnh. Do đó, giới chuyên gia cho rằng, về dài hạn, việc khơi thông vốn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa vẫn không thể đặt toàn bộ gánh nặng lên bảng cân đối của các ngân hàng. Cùng với việc duy trì các chương trình tín dụng ưu đãi, cần phát triển mạnh hơn thị trường trái phiếu doanh nghiệp, thị trường chứng khoán và thu hút các dòng vốn quốc tế để hình thành cấu trúc cung ứng vốn cân bằng hơn.