Ai đã từng đến những vùng sâu, vùng xa, lặn lội tới những lớp học cắm bản thì mới thấy đây là chuyện thường ngày, không có gì phải ầm ĩ. Không thể đổ lỗi cho học sinh, càng không thể đổ lỗi cho những giáo viên đã can đảm cắm bản. Để giải quyết nạn "học sinh ngồi nhầm lớp" phải bắt đầu đi từ nhận thức của người quản lý ở tầm vĩ mô.
Từ gợi ý của bà Thứ trưởng đến kết quả “các em đã biết... chào thầy”
Trước chúng tôi một năm, đích thân bà Thứ trưởng Bộ GD-ĐT Đặng Huỳnh Mai đã đến xã Trung Sơn, huyện Yên Lập (Phú Thọ). Vị lãnh đạo bộ này đã tận mắt chứng kiến chuyện học, chuyện dạy ở một bản người Mông, nơi nỗi lo thường trực của người dân cụ thể hơn nhiều việc học chữ: Đó là cái đói cái rét, bệnh tật. Nhưng bà Thứ trưởng không thể chỉ đạo các thầy cô dạy cho HS những gì dễ hơn, chậm hơn so với chương trình chung, vì như thế là trái với quy định chung. Bà chỉ ngậm ngùi gợi y nên linh hoạt để dạy. Có nghĩa là tùy đối tượng tùy trình độ nhận thức, tùy theo hoàn cảnh điều kiện mà "linh hoạt" áp dụng một nội dung dạy học, làm sao để cái mình dạy, học sinh tiếp nhận được. Giờ đây, sau một năm sau , trở lại Trung Sơn, Phú Thọ, chúng tôi cũng phải mất mấy tiếng để vượt qua chặng đường chưa đầy 30 km từ trung tâm huyện. Đường sạt lở, cầu bị lũ cuốn phăng, nước chảy ngang lối đi, có cả vài chú rắn hồn nhiên nằm ườn phơi nắng giữa đường. Các thầy cô giáo ở đây khoe với chúng tôi: “Gợi ý" đó (của bà Thứ trưởng) đã giúp chúng tôi giải quyết khó khăn. Nhưng cũng chỉ "cải thiện" một phần tình hình. Một cô giáo nhận xét cụ thể về sự tiến bộ của học sinh thế này: “Các cháu đã biết đứng dậy chào thầy khi thầy vào lớp”. Thế cũng đã là tốt rồi.
Nếu không đến những nơi cực khổ, sống cực, dạy học cũng cực như thế, người ta sẽ không thể lý giải được làm sao mà các thầy cắm bản lại mừng quá vậy khi tiến bộ của học sinh chỉ dừng lại ở mức “biết chào thầy”.
Thẳng thắn mà nói, ở những lớp học mà chúng tôi thực hiện cuộc "khảo sát đột xuất”, đa phần không đạt được yêu cầu của chương trình chung (một chương trình áp dụng cả cho học sinh các đô thị hiện đại và học sinh dân tộc thiểu số vùng sâu, vùng xa). Chuyện học sinh lớp 2 không làm đúng được phép tính cộng đơn giản là có, chuyện học sinh lớp 3, 4 đọc chậm, ngọng là có. Một số em không đọc được. Cuối buổi học mà trang vở vẫn chỉ có một dòng chữ ghi tên bài học chép được ở trên bảng.
Cho nghỉ học? Quá đơn giản đối vôi miền xuôi, nhưng ở miền núi, học sinh lại là người dân tộc thiểu số, đó là vấn đề cực kỳ nhạy cảm. Tại Trung Sơn cũng như nhiều nơi khác, chỉ cần cho học sinh "đúp", các em cũng bỏ học luôn. Cái “khó" của người làm công tác giáo dục vùng khó không phải ai cũng hiểu được.
Cô giáo Trần Thị Loan, dạy tại bản Khe Nhồi (thuộc xã Trung Sơn) cho biết: Mỗi sáng, cô giáo phải đi đến từng nhà, miệng gọi trẻ, tay cầm cặp sách cho chúng. Đánh trống từ 6 giờ sáng, nhưng có khi đến trưa mới gọi được các em đến lớp. Giờ nghỉ giải lao, điểm danh thấy thiếu học trò, cô lại tìm đến nhà thì thấy chúng hồn nhiên ngồi...khâu váy, hồn nhiên nghịch đất mà không hề nghĩ đến việc phải quay lại lớp học. Có học sinh trời nóng như đổ lửa mặc áo len đến lớp vì chỉ có duy nhất một chiếc. Một số cháu lớp chỉ mặc áo, không có quần. Chuyện đó rất đỗi bình thường.Thiếu lòng kiên nhẫn không thể nào trụ được ở những nơi như Trung Sơn.
Ngồi nhầm lớp... chuyện quá bình thường
Một lớp học có cả HS Mông, Dao, Mường phần lớn HS lớp 1,2 chỉ lõm bõm biết tiếng Việt. Ở Khe Nhồi, theo ông trưởng thôn thì đàn ông đều vào rừng, ở nhà chỉ cô phụ nữ. Nhưng 100% phụ nữ đều không biết tiếng Kinh, nhiều người không biết chữ. Đó cũng là lý do khiến trẻ con mù tịt tiếng Việt.
Cô Loan cho biết: Chúng tôi phải tự lược bớt kiến thức trong chương trình chỉ dạy phần đơn giản. Nếu cứ dạy đúng chương trình thì ngang với việc dạy cho... bức tường? Với phương châm dạy được tới đâu hay tới đó cho các em biết được chữ nào tốt chữ đó, còn hơn mù chữ. Dạy chữ cũng là dạy nề nếp, dạy cách sống, cách ứng xử. Thế nên các thầy cô giáo ở Trung Sơn đã tự áp dụng “một chương trình phù hợp" . Nhưng điều đó là trái quy định, điều đó lại khiến học sinh “ngồi nhầm lớp" khi lớp 4, 5 vẫn chật vật với bài tập đọc.
Ngồi sau chiếc xe Minkhơ của một thầy giáo có bảy năm ở Trung Sơn chạy veo veo qua những dốc đá, những đoạn đường lầy lội, trơn tuột, bên này là núi cách chỉ 1 mét, bên kia là vực, chúng tôi nghĩ đến những lời lên án đanh thép: “Vì sao để học sinh ngồi nhầm lớp?" mà thương cho người thầy vùng cao quá đỗi.
Cô giáo Bùi Thị Thu vạch chân quần cho tôi xem chi chít vết sẹo, vết thâm tím ở chân. Cô là cô giáo duy nhất ở Trung Sơn dám đi xe máy vào tận điểm trường sâu nhất để dạy học. Cô nói: Ngày được nghỉ tôi không thể không về vì ngoài thị trấn còn chồng, các con nhỏ đang chờ. Nhưng sau một ngày nghỉ, lại phải tức tốc về trường. Thế nên tôi liều đi xe máy ngã lại dậy đi, đi lại ngã, cũng quen rồi". Nhiều cô giáo khác không dám "anh hùng" như thế đã chọn con đường cuốc bộ. Có cô giáo bị ốm, đồng nghiệp xúm vào khiêng ra thị trấn cấp cứu, phải mất mấy ngày đêm mới ra được thị trấn. Đến Trung Sơn, chúng tôi ngộ ra một điều, chương trình học tiêu chí đánh giá học sinh, đánh giá giáo viên ở những nơi như thế này không thể đánh đồng với ở thành phố, ở vùng thuận lợi. Đó là một bất cập mà những người đi thực tế theo kiểu "cưỡi ngựa xem hoa" không thể nào nhận ra được.
Nếu áp yêu cầu của chương trình mới, chương trình duy nhất thống nhất trên toàn quốc hiện nay để đánh giá sự học ở những vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số thì thấy rõ “ngồi nhầm lớp" là phổ biến. Thầy Trung Hữu ở xã Hướng Hiệp (huyện Đăkrông, Quảng Trị) thì dè dặt khi được hỏi về số học sinh đạt kết quả học tập khá ở bản Trạng: "Nếu theo tinh thần "nói không với tiêu cực của Bộ trưởng" thì tỷ lệ khá" rất ít". Nhưng thực tế thì sao? Tại điểm trường ở Khe Ngài, Đăkrông (Quảng Trị), học sinh không có phần thưởng , giấy khen thì không đi học. Lực học yếu thế thì khen thế nào? Các thầy phải có sáng kiến mua giấy khen cho mỗi em một cái, cái thì khen "rửa tay sạch sẽ", cái khen "đi học đúng giờ”. Khen thế không đụng chạm đến quy định chung, nhưng đạt được mục đích là vận động trẻ đến trường.
Kể những chuyện trên để thấy, với những vùng khó, mọi quy định lớn nhỏ chung của ngành GD nếu áp dụng cứng nhắc đều không khả thi. Cái đích cuối cùng là để trẻ em vùng khó không thất học. Và vì thế, cái chuyện ngồi nhầm lớp, cũng phải tùy theo hoàn cảnh cụ thể mà xem lại.
| Cần xem lại chủ trương “Một chương trình cho toàn quốc”! Trước đây, Bộ GD-ĐT cũng đã có chương trình riêng cho học sinh vùng sâu, vùng xa. Nhưng khi "đổi mới chương trình – SGK phổ thông” những nhà quản lý GD cho rằng: Cả nước chỉ nên có một chương trình, không thể chia cắt thành nhiều chương trình khác nhau”. Để làm được điều này, nhà quản lý đầy đủ lý luận để giải thích cho việc “có một chương trình”. Nhưng thực tế đã trả lời rõ, quyết định trên rất bất cập, xà rời thực tế. Kết quả “ngồi nhầm lớp” của học sinh không thể đổ tại những thầy cô giáo đang chịu mọi cực nhọc để bám bản, bám lớp, cũng không thể đổ cho học sinh, vì nhận thức của em chỉ đến thế, không thể bắt các em “ngồi chung lớp” với HS thành phố. “Ngồi nhầm lớp” là sản phẩm tất yếu của quan điểm xa rời thực tế hiện nay. Phải khảo sát trình độ nhận thức, điều kiện sống và học tập của học sinh ở các vùng khó để xây dựng chương trình GD phù hợp. Bên cạnh đó là thay đổi quan điểm về đánh giá, bồi dưỡng GV để có thể thực hiện các phương pháp linh hoạt với nhiều đối tượng, trình độ học sinh trong cùng một lớp... Việc đó, lẽ ra phải làm từ lâu! |
Bài liên quan: