Động lực tăng trưởng kinh tế từ mục tiêu hai triệu doanh nghiệp

Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 4/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân đặt mục tiêu đến năm 2030 có hai triệu doanh nghiệp hoạt động trong nền kinh tế, đồng thời phấn đấu có ít nhất 20 doanh nghiệp lớn tham gia chuỗi giá trị toàn cầu; năng suất lao động khu vực kinh tế tư nhân tăng bình quân 8,5-9,5%/năm.

Sản xuất bảng mạch, thiết bị bảng mạch điện tử ở Công ty Trách nhiệm hữu hạn Doosan Electro-Materials Việt Nam (FDI Hàn Quốc) tại thành phố Hải Phòng. (Ảnh: ĐĂNG ANH)
Sản xuất bảng mạch, thiết bị bảng mạch điện tử ở Công ty Trách nhiệm hữu hạn Doosan Electro-Materials Việt Nam (FDI Hàn Quốc) tại thành phố Hải Phòng. (Ảnh: ĐĂNG ANH)

Những mục tiêu được đặt cạnh nhau cho thấy, đích đến không chỉ là một nền kinh tế có thêm nhiều doanh nghiệp, mà phải hình thành được một lực lượng doanh nghiệp có quy mô, năng suất, công nghệ và sức cạnh tranh cao hơn. Vậy, liệu Việt Nam sẽ có bao nhiêu doanh nghiệp thật sự đủ sức cạnh tranh, có thể trụ lại được với thị trường, đủ khả năng tạo ra giá trị gia tăng cao cho nền kinh tế?

Nhìn vào thống kê gần đây có thể thấy rõ thách thức này. Năm 2025, cả nước có 297.500 doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động, tăng 27,4% so năm trước, song cũng có 227.200 doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường. Chín tháng năm 2026, hơn 223.900 doanh nghiệp gia nhập thị trường, 172.000 doanh nghiệp rời thị trường, trong đó có hơn 48.700 doanh nghiệp giải thể, tăng 118,8% so cùng kỳ năm trước. Tuy số doanh nghiệp gia nhập thị trường tăng cao nhưng dòng doanh nghiệp rời bỏ thị trường cũng ở quy mô rất lớn, cho thấy khả năng trụ lại và phát triển của doanh nghiệp vẫn là vấn đề đáng quan tâm.

Nguyên nhân của tình trạng này được các chuyên gia kinh tế nhận định do 98% doanh nghiệp có quy mô nhỏ và vừa; phần lớn yếu về quy mô, công nghệ, năng suất và năng lực quản trị; khó khăn trong tìm kiếm khách hàng; khó vay vốn nếu không có tài sản thế chấp. Bên cạnh đó, những hạn chế trong dự đoán chính sách và tình trạng chi phí không chính thức còn phổ biến vẫn là những “điểm nghẽn” trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp.

Thách thức hiện nay không nằm ở việc có thêm doanh nghiệp, quan trọng hơn làm sao để doanh nghiệp đủ sức tồn tại, có khả năng tích lũy vốn, mở rộng nhà xưởng, đổi mới công nghệ, tăng năng suất và bước vào những thị trường lớn hơn. Nếu doanh nghiệp cứ mãi ở quy mô nhỏ, lợi nhuận thấp và khó đầu tư dài hạn, thì số lượng tăng lên vẫn rất khó chuyển thành sức mạnh kinh tế. Ngoài ra, việc ban hành các chính sách tháo gỡ rào cản khi doanh nghiệp gia nhập thị trường là chưa đủ, chính sách hỗ trợ cần được thiết kế theo từng chặng phát triển của doanh nghiệp.

Quan trọng hơn, phải mở rộng không gian để doanh nghiệp tư nhân tham gia vào những lĩnh vực có khả năng tạo sức lan tỏa lớn, từ hạ tầng, năng lượng, logistics, hạ tầng số đến các ngành công nghiệp mới. Khi có cơ hội tham gia những thị trường và các chuỗi cung ứng lớn, doanh nghiệp mới có động lực đầu tư cho công nghệ, nâng tiêu chuẩn sản xuất và tích lũy năng lực cạnh tranh. Đây phải trở thành một trọng tâm của việc ban hành các chính sách phát triển doanh nghiệp trong giai đoạn tới.

Ngoài ra, hiệu quả của chính sách không nên chỉ tính bằng số thủ tục được cắt giảm hay số doanh nghiệp được hỗ trợ, mà phải được phản ánh qua những thay đổi thực chất trong hoạt động doanh nghiệp với quy mô lớn lên, năng suất tăng lên, công nghệ được cải thiện, có thêm doanh nghiệp nào đủ sức tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu. Quan trọng hơn, phải thay đổi cách Nhà nước tương tác với thị trường, hướng tới tạo điều kiện để doanh nghiệp có thể phát huy tốt nhất tiềm năng. Chỉ khi thể chế đủ minh bạch, ổn định và nhất quán, doanh nghiệp mới yên tâm đầu tư, duy trì hoạt động và phát triển bền vững. Khi đó, mục tiêu có hai triệu doanh nghiệp hoạt động vào năm 2030 mới thật sự trở thành một nền tảng quan trọng cho tăng trưởng kinh tế đất nước.

Có thể bạn quan tâm