Chiều 26/10, Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Lắk tổ chức hội nghị quán triệt, triển khai thực hiện Đề án xây dựng và phát triển toàn diện 20 xã điểm vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi tỉnh Đắk Lắk giai đoạn 2026-2030 theo hướng “Kinh tế phát triển - xã hội văn minh - quốc phòng, an ninh vững mạnh”.
Sự cần thiết thực hiện đề án
Theo Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Lắk Y Nhuân Byah, sau sắp xếp đơn vị hành chính, tỉnh Đắk Lắk có diện tích tự nhiên khoảng 18.096,40km2, 102 đơn vị hành chính cấp xã, 45 dân tộc cùng sinh sống; trong đó có 81 xã thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, 51 xã đặc biệt khó khăn. Dân số toàn tỉnh trên 3,3 triệu người, trong đó đồng bào dân tộc thiểu số chiếm khoảng 25,4%. Đây là địa bàn có vị trí quan trọng về phát triển kinh tế-xã hội, bảo tồn văn hóa các dân tộc, bảo đảm quốc phòng, an ninh và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Tỉnh có nhiều tiềm năng, lợi thế về nông nghiệp, lâm nghiệp, kinh tế rừng, du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng và các sản phẩm đặc trưng của từng vùng. Không gian phát triển sau sắp xếp đơn vị hành chính tạo thêm điều kiện liên kết giữa phía Đông và phía Tây, giữa vùng cao nguyên với khu vực duyên hải, mở ra cơ hội tổ chức lại sản xuất, phát triển thị trường và nâng cao giá trị các sản phẩm địa phương.
Tuy nhiên, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi vẫn còn nhiều khó khăn; kết cấu hạ tầng chưa đồng bộ, sinh kế của một bộ phận người dân thiếu ổn định, sản xuất còn phân tán, liên kết chuỗi giá trị hạn chế; chất lượng nguồn nhân lực, khả năng tiếp cận dịch vụ thiết yếu, bảo tồn văn hóa và bảo vệ môi trường còn những mặt chưa đáp ứng yêu cầu. Trong khi đó, nguồn lực ngân sách có hạn, nhu cầu đầu tư lớn, đòi hỏi phải lựa chọn đúng trọng tâm, sử dụng hiệu quả các nguồn lực và phát huy nội lực tại chỗ.
Trong điều kiện đó, thực hiện Nghị quyết số 07-NQ/TU ngày 15/5/2026 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk về công tác dân tộc và tôn giáo giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2045, Ủy ban nhân dân tỉnh đã phê duyệt Đề án xây dựng và phát triển toàn diện 20 xã điểm vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi tỉnh Đắk Lắk giai đoạn 2026-2030 theo hướng “Kinh tế phát triển-xã hội văn minh-quốc phòng, an ninh vững mạnh”.
Đề án xác định cách tiếp cận phát triển có trọng tâm, trọng điểm, gắn phát triển kinh tế với nâng cao đời sống Nhân dân, bảo tồn bản sắc văn hóa, bảo vệ môi trường, củng cố hệ thống chính trị và giữ vững quốc phòng, an ninh. Đề án không chỉ hướng đến giải quyết những khó khăn trước mắt mà còn tạo phương thức tổ chức phát triển có tính hệ thống, gắn đầu tư hạ tầng với phát triển sinh kế, nâng cao năng lực quản trị cơ sở và phát huy vai trò chủ thể của người dân.
Trong 20 xã được lựa chọn có 14 xã phía Tây và 6 xã phía Đông; có 14/20 xã có từ 7 tiêu chí đặc biệt khó khăn trở lên, chiếm 70%. Các xã phía Tây gồm: Cư Pơng, Tam Giang, Phú Xuân, Ea Wy, Ea Drông, Ia Rvê, Liên Sơn Lắk, Hòa Sơn, Ea Wer, Ea M’Droh, Ea Trang, Ea Knốp, Ea Ô và Tân Tiến. Các xã phía Đông gồm: Xuân Lãnh, Phú Mỡ, Suối Trai, Sông Hinh, Sơn Hòa và Tuy An Tây.
Theo Phó Giám đốc Sở Dân tộc và Tôn giáo tỉnh Đắk Lắk Lê Ngọc Vinh, các xã được lựa chọn thực hiện trên cơ sở mức độ khó khăn theo Nghị định số 272/2025/NĐ-CP, điều kiện dân cư, tỷ lệ hộ nghèo, thực trạng kết cấu hạ tầng, tiềm năng, lợi thế, tính đại diện giữa hai khu vực phía Đông và phía Tây, đồng thời xem xét khả năng hình thành mô hình phát triển có sức lan tỏa.
Việc lựa chọn các xã điểm không có nghĩa là tập trung nguồn lực một cách khép kín, tách rời các địa bàn khác. Mục tiêu là tạo ra các mô hình phát triển phù hợp với điều kiện từng vùng, có phương pháp tổ chức thực hiện hiệu quả, có thể tổng kết, đánh giá và vận dụng tại những địa bàn có điều kiện tương đồng.
“Tư tưởng xuyên suốt của đề án là chuyển từ hỗ trợ phân tán sang đầu tư có trọng tâm, trọng điểm; từ tập trung cung cấp nguồn lực sang kiến tạo điều kiện phát triển; từ cách làm chủ yếu dựa vào hỗ trợ của Nhà nước sang phát huy nội lực, tính chủ động của người dân, đồng thời huy động sự đồng hành của doanh nghiệp, hợp tác xã và toàn xã hội”, Lê Ngọc Vinh chia sẻ.
Huy động nguồn lực 5.000 tỷ đồng để thực hiện đề án
Quan điểm chỉ đạo của tỉnh là lấy người dân làm chủ thể, cộng đồng làm nền tảng; chú trọng thay đổi nhận thức, nếp nghĩ, cách làm, khơi dậy ý chí tự lực, tự cường và khát vọng vươn lên. Nhà nước giữ vai trò định hướng, hỗ trợ và tạo điều kiện; doanh nghiệp, hợp tác xã và các tổ chức xã hội tham gia đồng hành, liên kết phát triển…
Đề án đề ra mục tiêu tổng quát đến năm 2030, xây dựng 20 xã điểm có diện mạo nông thôn “Xanh-Sạch-Đẹp-Văn minh-Bản sắc”, kinh tế phát triển, sinh kế bền vững, đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân được nâng cao; văn hóa truyền thống được bảo tồn, phát huy; môi trường sống được cải thiện; hệ thống chính trị cơ sở hoạt động hiệu lực, hiệu quả; quốc phòng, an ninh được giữ vững.
Về chỉ tiêu cụ thể: 100% thôn, buôn xây dựng và duy trì mô hình “Buôn xanh-sạch- đẹp-văn minh-bản sắc”. Mỗi xã có ít nhất một mô hình kinh tế xanh hoặc kinh tế tuần hoàn; một chuỗi liên kết sản xuất-chế biến-tiêu thụ; một sản phẩm OCOP hoặc sản phẩm đặc trưng được xây dựng thương hiệu.
100% cơ quan hành chính cấp xã thực hiện hiệu quả chuyển đổi số, cung cấp dịch vụ công trực tuyến theo quy định. Tỷ lệ hộ sử dụng nước hợp vệ sinh đạt từ 98,7% trở lên.
100% nhà sinh hoạt cộng đồng được chỉnh trang, bố trí không gian phù hợp với bản sắc văn hóa của cộng đồng dân cư. Tỷ lệ người dân hài lòng với sự phục vụ của chính quyền đạt 95%. Bảo đảm an ninh, trật tự, phấn đấu xây dựng địa bàn không ma túy.
Theo Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Lắk, để đạt được mục tiêu trên, tổng nhu cầu nguồn lực dự kiến thực hiện Đề án giai đoạn 2026-2030 khoảng 5.000 tỷ đồng, trong đó nguồn vốn huy động tại địa phương và xã hội hóa khoảng 3.000 tỷ đồng, chiếm 60%; ngân sách tỉnh khoảng 2.000 tỷ đồng, chiếm 40%.
Về phân bổ nguồn lực, khoảng 90% dành trực tiếp cho các xã điểm và khoảng 10% cho nhiệm vụ chung, liên xã và cấp tỉnh. Cơ cấu dự kiến theo nhóm nhiệm vụ gồm: hạ tầng, bảo vệ môi trường và thích ứng biến đổi khí hậu 40%; kinh tế xanh, sinh kế bền vững 30%; nguồn nhân lực, giáo dục, y tế, chuyển đổi số và đời sống văn minh 10%; bảo tồn văn hóa, du lịch cộng đồng 10%; tuyên truyền, đào tạo, củng cố hệ thống chính trị cơ sở, quốc phòng, an ninh, kiểm tra, giám sát và các nhiệm vụ khác 10%.
Cơ cấu và mức phân bổ cụ thể được xem xét, điều chỉnh phù hợp với khả năng cân đối nguồn lực, nhu cầu thực tế và thẩm quyền quyết định. Quá trình triển khai phải bảo đảm công khai, minh bạch, đúng mục tiêu, đúng đối tượng, tránh trùng lặp với các chương trình, dự án khác, nhất là các công trình, hạng mục đã được bố trí vốn từ Đề án hỗ trợ các xã, thôn đặc biệt khó khăn ra khỏi diện đặc biệt khó khăn giai đoạn 2026-2030.
Phát biểu tại hội nghị, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Lắk Y Nhuân Byah cho biết: Việc lựa chọn 20 xã điểm để thực hiện đề án thể hiện quyết tâm của tỉnh trong tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, ưu tiên nguồn lực và tổ chức thực hiện có trọng tâm, trọng điểm; qua đó tạo chuyển biến rõ nét tại các địa bàn được lựa chọn, đồng thời xây dựng những mô hình, cách làm hiệu quả để tổng kết, rút kinh nghiệm và xem xét nhân rộng phù hợp với điều kiện thực tế của từng địa phương.
Để đề án đi vào thực chất, yêu cầu đặt ra là phải đổi mới tư duy và phương thức tổ chức thực hiện; phát huy vai trò kiến tạo, định hướng, hỗ trợ của Nhà nước, đồng thời đề cao trách nhiệm, tính chủ động của chính quyền cơ sở và vai trò chủ thể của người dân. Cùng với đầu tư hạ tầng, hỗ trợ sản xuất và phát triển sinh kế, cần chú trọng nâng cao nhận thức, khơi dậy ý chí tự lực, tự cường, tinh thần chủ động vươn lên của đồng bào; huy động sự tham gia, đồng hành của doanh nghiệp, hợp tác xã, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị-xã hội. Đây là những yếu tố quan trọng để bảo đảm các mục tiêu của Đề án được thực hiện hiệu quả, tạo nền tảng cho sự phát triển lâu dài.
Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Lắk Y Nhuân Byah đề nghị ngay sau hội nghị, các cơ quan, đơn vị, địa phương khẩn trương bắt tay vào công việc, chủ động phối hợp, phát huy tinh thần trách nhiệm, huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực; thực hiện tốt phương châm dân biết, dân bàn, dân tham gia, dân giám sát và dân thụ hưởng. Quá trình triển khai phải bảo đảm rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ tiến độ, thường xuyên kiểm tra, kịp thời tháo gỡ khó khăn, quyết tâm đưa Đề án vào thực tiễn, tạo chuyển biến rõ nét tại 20 xã điểm và từng bước hình thành các mô hình có hiệu quả để xem xét nhân rộng.