Cha tôi cùng biển rộng - Truyện ngắn của ĐẶNG THANH PHƯƠNG

Một cách bàn về nghề nghiệp, cụ thể ở câu chuyện là nghề báo. Những chi tiết thật, bám sát đời sống và với lối kể hết sức dung dị mà đầy hiệu quả, tạo thành sự truyền cảm qua câu chuyện về một nhà báo già, hơn thế, hai thế hệ nghề, tiếp nối và trưởng thành. Chuyện không xa lạ ở giới báo chí, song khi có bàn tay văn chương của Đặng Thanh Phương tạo thành một thông điệp nhỏ mà sâu sắc, nhân ái, đạt tính lý tưởng mà không hề lên gân, chậm rãi đi vào trái tim bạn đọc. NDHT
Cha tôi cùng biển rộng - Truyện ngắn của ĐẶNG THANH PHƯƠNG

Tôi rất yêu thích văn học, mê các nhà văn, và điều tự hào nhất với tôi là có được người cha là nhà thơ. Ông phụ trách tờ báo chủ nhật của một tỉnh nhỏ.

Trong chiến tranh, tỉnh tôi bị bom đạn tàn phá, hầu như chẳng còn gì. Sách vở, bia ký, trường học, chùa chiền thảy đều tan hoang. Sau ngày đất nước thống nhất, người ta nhờ các chuyên gia nước ngoài đến vẽ quy hoạch và xây dựng lại thành phố. Các tòa nhà năm tầng, với kiểu dáng giống hệt nhau, được xây dựng lên với tốc độ chóng mặt. Chúng chỉ khác nhau bởi các tên gọi và bởi chúng quay về các hướng đông hoặc hướng tây.

Một trong những tòa nhà như vậy được chọn làm trụ sở tòa soạn báo. Hai tầng dưới dùng làm văn phòng, hội họp, tiếp khách, nấu cơm, ba tầng trên dành cho anh em phóng viên, biên tập, họa sĩ, thậm chí phó tổng biên tập phụ trách nội dung cũng sống ở đó. Căn phòng dài, ngăn bằng tấm ri-đô vải, đặt hai giường. Trước mỗi giường đặt một cái bàn, cái dành cho chúng tôi học hành, cái dùng cho cha biên tập và làm thơ. Góc cuối để nấu ăn và sinh hoạt vệ sinh. Nói chung, cha tôi thường đón tiếp các bạn văn chương báo chí ở trong căn phòng nhỏ ấy.

Đôi khi, mẹ nấu cơm với món đậu phụ xào, cha xuống đường mua một chai rượu trắng. Mấy bác nhà thơ ngồi nhâm nhi vài sợi thịt bò khô và hứng chí đọc một mạch mười bài thơ. Những hôm thế, cha phải thức bù cả đêm, để đọc và biên tập cho số báo đi nhà in vào hôm sau. Tờ báo cuối tuần đậm chất văn nghệ, cha tôi thích nhất hai trang giữa, đăng thơ và truyện ngắn. Một nhà thơ chỉ đăng vỏn vẹn bài thơ bốn dòng, mỗi dòng vài chữ, nhưng hôm sau bác ấy tới mang theo mười quả trứng gà để tặng mẹ tôi. Cầm những quả trứng, vân vê trên tay, mẹ tôi bảo: “Chỉ mỗi con gà đẻ là hiểu tôi muốn gì”.

Cha tôi biên tập kỹ nhất trang phóng sự. Cha nói với mọi người: “Văn chương đưa người ta rời xa thực tại mà báo chí thì kéo con người về với đời sống”. Cha tổ chức, động viên cho phóng viên vào rừng, viết bài về nạn đào vàng. Báo đăng lên, người đọc xôn xao lắm. Không ngờ đời đào vàng lại khổ thế, cơm không có mà ăn, chết vì sốt rét, có đứa bị đối xử như nô lệ. Sống trên đống vàng, nhưng con người cực khổ quá chừng. Bài viết đăng hai kỳ, thì có điện thoại, trên huyện gọi xuống, yêu cầu nhà báo đừng đăng nữa. Lý do là: “Nhờ báo thông tin nên các đối tượng biết huyện nhà có mỏ vàng, hiện đổ xô lên đào, hàng nghìn đối tượng, kiểm soát không được”.

Vụ ấy, cha tôi phải làm việc nhiều, phải chứng minh rằng bài báo đăng lên không phải vì mục đích thương mại hóa tờ báo để câu khách, gây mất trật tự ở địa phương. Cha thở dài: “Đời nhiêu khê, không bay bổng như văn chương”.

Mẹ tôi trước làm ruộng ở nhà. Từ khi cha phụ trách tờ Chủ nhật, bận bịu công việc và tiếp khách, không nấu ăn được, mẹ phải lên chăm. Mẹ bảo: “Tôi chăm ông thì ít, chăm bạn ông thì nhiều”. Cha gầy ốm, ăn uống thất thường. Bạn đọc lên phản ánh chuyện nọ chuyện kia, lắm khi cha dẫn họ đi ăn cơm bụi, mẹ phải moi từng đồng tiền lẻ để cha đãi bạn đọc.

Tờ báo phát hành nhiều tỉnh, bán ra cả trung ương. Trước đến giờ, chưa khi nào báo làm được thế. Nhà tôi ngày một nghèo đi. Bò, rồi lợn, gà, nào bán, nào ăn dần, vườn tược ở quê trống hoác. Em tôi đi học Đại học Tổng hợp Hà Nội, thường gửi thư về, nó kêu: “Con bị đau dạ dày, do ăn mì hột nhiều quá”. Nó sợ cha không tin, gửi kèm hình theo, người trắng bợt, thân hình ốm nhách.

Cha thương lắm, lâu lâu mới gom nổi chút tiền nhuận bút gửi ra thủ đô. Cha ngại dư luận, không viết trên báo mình phụ trách mà viết gửi tờ khác, nhuận bút thấp bằng nửa báo của cha. Mỗi lần bài thơ được đăng, cha vui mừng, kêu đồng nghiệp đến đãi. Mẹ chẳng biết nói thế nào.

Bấy giờ, nhiều nhà báo nhà thơ các tỉnh khác, thậm chí cả trung ương, gửi tác phẩm về nhiều. Mỗi tháng cha nhận cả bao tải thư các loại. Lắm tác giả cha rất hâm mộ, nay được trực tiếp nhận bài, biên tập, thấy vinh dự lắm. Nhưng cắt vài chữ của họ, cha cứ phải cân nhắc mãi. Chưa kể “nhuận bút trả họ phải cao hơn, phải bớt nhuận bút của anh em ở tỉnh”, cha băn khoăn nói với bạn cùng báo.

Bác Văn Trúc, làm thơ ở trung ương, viết một bài kiểu như vè, chế giễu nạn phong bì đám cưới, phong bì hội nghị. Bài thơ có câu: “Ai ơi chớ lấy phong bì/ Nhận tiền hối lộ còn gì thanh danh”. Bài đăng lên, nhiều ý kiến không hài lòng, thậm chí yêu cầu chuyển cha làm việc khác.

Vụ việc làm mẹ tôi ngạc nhiên lắm, mẹ hỏi: “Ông ơi, giờ đi đâu chẳng thấy nạn phong bì, sao người ta phản ứng ông ghê gớm vậy?”. Cha mới tắc lưỡi: “Tôi nào biết! Cách đây vài hôm có đám cưới con ông phó giám đốc sở, phong bì nhận được đầy hai chậu thau nhựa. Người ta bảo tôi đăng bài thơ cố tình xỏ họ, hạ uy tín của lãnh đạo sở”. Mẹ tôi bảo: “Cha phải đăng đính chính, nói rõ chúng tôi không nhằm vào đám cưới ai cả”. Cha lắc đầu: “Vì bài thơ đó mà báo bán chạy vô cùng, giờ biết nói lại thế nào đây! Bạn đọc họ sẽ nghĩ gì”.

Năm tôi thi đại học, tôi hỏi ý kiến. Mẹ bảo: “Con thi vào trường nào làm ăn kinh tế, sau này vợ con đỡ khổ”. Cha bảo: “Văn chương bạc bẽo không nuôi sống được nhà thơ, văn chương lại không phải thứ để cầu danh, nên không cho người ta điều gì lợi lộc. Nó chỉ là thú di dưỡng tinh thần, không phải một nghề. Báo chí là một nghề. Báo hay, nói về người ta, về đời sống thật, người ta mua nhiều, sống bằng bạn đọc, đấy là một nghề cực kỳ lương thiện”.

Cha lại bảo: “Tuy vất vả lương thấp, nhưng người ta có quyền nói được những gì muốn nói, như con chim được hót, con cá được bơi”. Sau này, cha lại bảo: “Cha ân hận, đã khuyên con vào nghề báo. Nghề báo vất vả quá, chẳng kém gì nghề phu mỏ, ngày nào cũng phải đào bới một cái gì. Cha thương con lắm”.

Tôi không làm văn chương. Nghề báo, ở vị trí của tôi, không nhiều bạn bè bù khú như cha, tôi cũng chẳng bao giờ mời bạn đọc đi ăn cơm bụi. Nghề báo hiện đại cuốn hút người ta, tiêu tốn thời gian, chẳng còn tâm thế như thời ông sống chậm, tự tại để làm thơ và thưởng thơ. Chúng tôi vào thời đại báo chí điện tử, làm việc nhiều trong văn phòng, liên lạc, bài vở qua in-tơ-nét. Mối quan hệ giữa bạn đọc và tòa soạn cũng không còn bìu ríu như thời cha tôi.

Cha tôi nghỉ hưu. Tờ báo Chủ nhật thiếu người, in được vài số rồi đình bản sau khi ông nghỉ vài tháng. Ông ở nhà mà vẫn không dứt bỏ nỗi nhớ nghề. Ông không quen đọc báo điện tử trên máy, ông vất vả làm quen với công nghệ mới và đôi khi sai tôi in ra để đọc nhâm nhi. Nhất là những bài viết về tỉnh nhà. Cha không thích gọi cái điều khiển máy tính là “con chuột” mà gọi nó là “con sóc”. Cha kêu: “ Báo bây giờ viết lỗi chính tả nhiều quá!”. Ngày nào cha cũng giương mục kỉnh đọc báo trên màn hình. Vừa đọc cha vừa dụi mắt. Đôi khi ông thần người ra. Không biết cha buồn chuyện gì, tiêu cực xã hội, hay chuyện nghề...

Năm ngoái, người ta đập tan cái trụ sở cơ quan cũ của cha, xây trụ sở mới. Tòa nhà năm tầng cũ kỹ, thép gỉ, tường lở ấy đã vĩnh viễn biến mất. Một tòa nhà ngói giả mọc lên, nom thật lạ lẫm.

Mỗi lần đi qua con phố sặc sỡ biển hiệu và những thứ đồ nhôm nhựa hàng nhái mà người ta mỹ miều gọi là “theo phong cách Y, theo công nghệ X”, tôi chợt nhớ tới tòa trụ sở cũ kĩ xưa. Những người bạn của cha, các nhà thơ gầy gò, thường chia với chúng tôi từng miếng đậu phụ rán cắt nhỏ, bé xíu.

Những bài báo nóng hổi, kèm theo những cuộn băng ghi âm cáu bẩn nằm trên bàn cha tôi. Các vị độc giả vừa khóc vừa giãi bày về sự bất công mà họ gặp phải. Cha nói với họ: “Hoặc khóc hoặc trình bày, không thể cùng lúc làm hai việc như thế này được”. Họ bảo: “Nếu anh ở trường hợp chúng tôi, anh cũng sẽ có thể lại khóc và trình bày thôi”.

Mới rồi cha tôi bị ốm. Tôi tất tưởi từ Hà Nội trở về thăm cha. Chúng tôi vội đưa ông vào viện. Bác sĩ hỏi: “Bác nghỉ hưu à? Trước bác làm nghề gì vậy?”.

Mẹ tôi bảo: “Cha cháu trước làm nghề xe cát”.

Họ im lặng, cũng chẳng hỏi thêm. Tôi không biết họ có hiểu ý mẹ tôi không? Mà cần gì !

Vâng, một xã hội rộng như biển, cha tôi như con gì cõng cát?

Một số báo đăng không biết bao nhiêu chuyện, một đời cha không biết bao nhiêu số báo được in ra.

Cha thấy con về, mừng lắm mà mấy hôm trở bệnh đau hơn. “Con phải gắng học hỏi. Làm cái gì cũng phải hết lòng, phải chuyên nghiệp và vững nghề...”. Ông nắm chặt tay tôi, đôi mắt mệt mỏi, nhìn đâu xa thăm thẳm. Ông thì thào đủ cho tôi nghe: “Trên đời này có những nghề như nghề báo của cha con mình, cuối đời chả có gì, song vẫn phải giữ lòng trong sạch, sự kiên nhẫn, can đảm, để bạn bè đồng nghiệp tin cậy và kính trọng. Tỉ như người ta kính trọng khâm phục lòng kiên nhẫn của loài Dã Tràng trước biển lớn. Con hiểu không?”. - Dạ, con hiểu - Tôi ứa nước mắt. Xiết chặt tay ông.

Tôi muốn nói với ông mà không sao cất nên lời. Vâng, đời như biển rộng, biển có khi động, lúc êm, rồi lúc lại động... luân hồi không dừng. Dã Tràng không sợ, vẫn ngày đêm xe cát, bền bỉ, say sưa.

*

* *

Bệnh cha tôi không rõ lành dữ thế nào, ngày trước vừa đỡ, ngày sau lại vật vã. Không thể nán lại nhiều ngày. Tôi đã nghỉ quá thời gian được phép. Đành để mẹ chăm cha.

Tôi lên đường ra Hà Nội.

Ô-tô ì ạch leo qua đèo. Tôi chợt quay lại nhìn rõ cả dải đất nhỏ miền trung, nơi có cha tôi, tuổi thơ của tôi... Cả bãi biển tít tắp, những doi cát ánh lên trong nắng, dần trôi xa xa... Biển miền quê bao la và xanh thăm thẳm trên miền cát trắng miên man tận chân trời. Từng đợt sóng xô ầm ào trắng xóa.

Cha ơi, con sẽ làm theo lời mong ước của cha. Dù nghề báo có bao thử thách cam go, và dù ở thời đại nào thì chắc chắn người ta vẫn cần cho công việc này một tấm lòng như thế hệ của cha. Mãi như thế. Cũng như con và bao thế hệ ở mảnh đất quê này bao nhiêu năm rồi, làm sao có thể đi chệch những vết mòn dẫn ra ven bãi cát quê nhà mênh mông, nhìn ra biển cũng vời vợi mênh mông...