Cần quản lý tốt công trình cấp nước sạch nông thôn

Trên địa bàn tỉnh Phú Thọ hiện có nhiều công trình cấp nước sạch tập trung hoạt động kém hiệu quả, ngừng vận hành. Thực trạng này không chỉ ảnh hưởng đời sống người dân mà còn đặt ra yêu cầu cấp thiết phải rà soát, đánh giá và đổi mới cách quản lý, khai thác các công trình đã được đầu tư để mang lại hiệu quả.

Công trình cấp nước sạch nông thôn “phơi mưa, phơi nắng” tại xã Dũng Tiến.
Công trình cấp nước sạch nông thôn “phơi mưa, phơi nắng” tại xã Dũng Tiến.

Nhiều công trình xuống cấp

Dũng Tiến là xã vùng sâu, vùng xa của tỉnh, điều kiện kinh tế còn nhiều khó khăn với gần 20.000 nhân khẩu, hơn 4.200 hộ dân. Hiện địa phương còn khoảng 30% số hộ dân gặp khó khăn về nguồn nước sinh hoạt do địa hình chủ yếu là núi đá vôi. Từ nguồn lực hỗ trợ của Nhà nước, xã xây dựng được năm công trình nước sạch.

Tuy nhiên, do địa bàn đông dân cư, hệ thống nước sạch hiện chưa đáp ứng được nhu cầu sử dụng. Vào thời điểm mùa khô, các hộ dân thường xuyên trong tình trạng thiếu nước sinh hoạt. Bên cạnh đó, do được đầu tư xây dựng từ lâu, tới nay bể nước đầu nguồn bị hư hỏng, xuống cấp, đập dâng đầu nguồn bị vỡ do mưa lũ, hệ thống đường ống cấp nước cũng xuống cấp, nhiều vị trí bị rò rỉ, không bảo đảm cấp nước vào mùa khô.

Ông Bùi Văn Mạnh, Bí thư Chi bộ kiêm Trưởng xóm Thượng, xã Dũng Tiến cho biết, nhiều hộ dân đầu tư khoan giếng với chi phí lớn, nhưng không đạt hiệu quả. Giếng khoan không có nước hoặc lượng nước rất ít, không đáp ứng nhu cầu sử dụng hằng ngày, trong khi nguồn nước này chưa qua kiểm nghiệm, tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn. Việc sử dụng nước không bảo đảm vệ sinh lâu dài ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe người dân, nhất là người già và trẻ nhỏ.

Tình trạng nêu trên còn diễn ra ở nhiều địa phương trong tỉnh, khiến nguồn lực đầu tư cho các công trình cấp nước sạch nông thôn chưa phát huy hiệu quả, thậm chí gây lãng phí trong thời gian dài. Theo số liệu thống kê, toàn tỉnh có 592 công trình, song chỉ 185 công trình đang hoạt động, trong khi có tới 407 công trình đã ngừng hoạt động.

Đáng chú ý, trong số những công trình không hoạt động có tới 401 công trình do Ủy ban nhân dân cấp xã quản lý. Những con số này cho thấy bài toán đặt ra yêu cầu phải sớm làm rõ nguyên nhân, khắc phục thực trạng yếu kém trong công tác quản lý các công trình nước sạch nông thôn.

Ông Hoàng Đình Tráng, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường cho biết: Phần lớn công trình nước sạch nông thôn được xây dựng từ những năm 2000 bằng nguồn vốn các chương trình mục tiêu quốc gia, ngân sách các cấp và đóng góp của Nhân dân. Đặc biệt ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, công trình thường có quy mô nhỏ, phạm vi phục vụ ở cấp thôn, xóm, công nghệ xử lý nước đơn giản.

Sau hàng chục năm khai thác, nhiều công trình xuống cấp nhưng chưa được sửa chữa, nâng cấp kịp thời. Không ít công trình tồn tại vướng mắc ngay từ khâu đầu tư, quyết toán và bàn giao tài sản.

Nhiều công trình chưa có quyết định hoặc hồ sơ phê duyệt quyết toán, chưa hoàn tất thủ tục bàn giao tài sản. Khi tổ chức, nhân sự thay đổi, hồ sơ quản lý công trình không được lưu giữ đầy đủ, thậm chí thất lạc, khiến việc xác định hiện trạng và trách nhiệm quản lý càng khó khăn.

Tìm phương án khắc phục

Một trong những nguyên nhân khiến nhiều công trình cấp nước sạch nông thôn chưa phát huy hiệu quả lâu dài do mô hình quản lý, vận hành chưa phù hợp.

Sau khi được đầu tư, bàn giao, một số công trình được Ủy ban nhân dân cấp xã giao cho thôn, xóm hoặc tổ quản lý tự vận hành, trong khi phương án bảo trì, sửa chữa chưa được xây dựng đầy đủ; việc theo dõi, quản lý hao mòn tài sản chưa thực hiện đúng quy định; cơ chế giá nước và nguồn kinh phí phục vụ vận hành còn thiếu rõ ràng. Trong khi đó, năng lực của đội ngũ trực tiếp quản lý tại một số nơi còn hạn chế.

Những bất cập đó khiến công trình khó duy trì hoạt động ổn định, nhất là khi phát sinh sự cố, việc xử lý chậm trễ có thể khiến hư hỏng nhỏ trở thành hư hỏng lớn, làm tăng chi phí sửa chữa và thậm chí dẫn đến công trình phải ngừng hoạt động.

Cùng với đó, nhận thức của một bộ phận người dân về trách nhiệm bảo vệ công trình, nguồn nước chưa đầy đủ; việc sử dụng nước chưa tiết kiệm, chưa chủ động bảo vệ nguồn nước và thiếu sự tham gia giám sát của cộng đồng cũng làm gia tăng khó khăn trong quá trình vận hành...

Theo số liệu báo cáo, đến hết năm 2025, tỷ lệ dân số nông thôn sử dụng nước sạch đạt quy chuẩn mới đạt 58,61%, thấp hơn mức bình quân cả nước và chưa đạt mục tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Phú Thọ lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030 đề ra.

Để tập trung thực hiện mục tiêu nâng tỷ lệ này lên 95%, một trong những nhiệm vụ quan trọng đó là cần rà soát, đánh giá và xử lý dứt điểm những vấn đề tồn tại trong quản lý tài sản kết cấu hạ tầng cấp nước sạch nông thôn.

Đối với 185 công trình đang hoạt động, các địa phương, đơn vị quản lý cần thực hiện nghiêm các quy định về quản lý, sử dụng và khai thác tài sản kết cấu hạ tầng cấp nước sạch, bảo đảm công trình được vận hành đúng mục đích và phát huy hiệu quả đầu tư. Riêng 407 công trình không hoạt động, việc xử lý cần dựa trên đánh giá thực tế, không làm theo cách dàn trải.

Đồng thời khảo sát đầy đủ để phân loại cụ thể: Công trình còn khả năng phục hồi thì ưu tiên cải tạo, sửa chữa. Công trình không tồn tại hoặc không còn khả năng phục hồi thì thực hiện thanh lý. Đây không chỉ là giải pháp xử lý những công trình đang “đắp chiếu”, mà còn là bước quan trọng để làm rõ hiện trạng tài sản, trách nhiệm quản lý và nhu cầu đầu tư trong thời gian tới.

Ngoài ra, mỗi công trình cần được xác định đơn vị quản lý, trách nhiệm vận hành, nguồn kinh phí bảo trì, sửa chữa và cơ chế khai thác phù hợp. Cùng với đó, người dân phải được xác định là chủ thể tham gia sử dụng, bảo vệ và giám sát công trình...

Có thể bạn quan tâm