Cần một "Khoán 10" trong kỷ nguyên số

Nguồn nhân lực chất lượng cao nói chung và nhân tài lĩnh vực khoa học công nghệ nói riêng luôn được coi là yếu tố quan trọng hàng đầu quyết định sự thành công trong đột phá phát triển khoa học-công nghệ và đổi mới sáng tạo. 

Không gian làm việc và nghiên cứu, phát triển công nghệ tại trụ sở Tập đoàn Công nghệ Bkav.
Không gian làm việc và nghiên cứu, phát triển công nghệ tại trụ sở Tập đoàn Công nghệ Bkav.

Trong sự bùng nổ của công nghệ toàn cầu và tinh thần bứt phá mạnh mẽ đất nước trong thời gian qua, vấn đề nhân lực, nhân tài trong công nghệ đã và đang đặt ra những bài toán cần lời giải cấp bách.

Cơ quan Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đã ban hành Thông báo số 24-TB/CQTTBCĐ ngày 7/7/2026 thông báo Kết luận của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạochuyển đổi số tại Hội nghị toàn quốc sơ kết 1 năm 6 tháng triển khai thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW.

Trong đó, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nêu rõ: ... Để tạo nền tảng tri thức và nhân lực cho phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, cần có chính sách đủ mạnh để thu hút, trọng dụng nhân tài, chuyên gia và trí thức người Việt Nam ở trong và ngoài nước; hình thành các nhóm nghiên cứu mạnh, kết nối hiệu quả mạng lưới trí thức Việt Nam toàn cầu…

Nguồn nhân lực đang là điểm nghẽn

Kết luận của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, Trưởng Ban Chỉ đạo cũng chỉ rõ: "...Bên cạnh những kết quả đạt được, việc thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW vẫn còn nhiều tồn tại, hạn chế, điểm nghẽn về thể chế, hạ tầng, nhân lực, dữ liệu, an ninh mạng, an toàn thông tin và giải ngân vốn, kết quả thực tế chưa tương xứng với chủ trương, nguồn lực và quyết tâm chính trị, chưa tạo ra nhiều sản phẩm chiến lược cụ thể,…".

Có thể chỉ ra, một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự chậm trễ này xuất phát từ việc thiếu hụt nguồn lực bởi hiện tượng “chảy máu chất xám”. Lĩnh vực công nghệ đang đối mặt với một kiểu "chảy máu chất xám" rất đặc thù: Dù không rời khỏi đất nước nhưng nhiều doanh nghiệp lĩnh vực công nghệ với hàng trăm nghìn nhân lực lại đang cống hiến chất xám để làm gia công (outsourcing) cho nước ngoài.

Một mặt, điều này minh chứng cho năng lực của kỹ sư Việt Nam; nhưng mặt khác, dưới góc độ vĩ mô, đây lại là một vấn đề cần quan tâm về chi phí cơ hội. Việc gia công mang lại thu nhập tốt cho từng cá nhân và doanh nghiệp, nhưng hiệu suất tổng thể của toàn ngành lại ở mức thấp. So với việc trực tiếp nghiên cứu và phát triển (R&D) để làm chủ sản phẩm lõi, giá trị từ gia công thấp hơn hàng chục, thậm chí hàng trăm lần. Đáng lo ngại hơn, mô hình gia công khiến số lượng lớn nhân lực rơi vào tư duy rập khuôn "đối tác giao gì làm nấy".

Có thể thí dụ như việc xây dựng một tòa nhà chọc trời, lao động Việt Nam chỉ nhận khoán việc lắp ráp khung cửa và sẽ kẹt trong phạm vi đó. Tư duy thụ động “giao gì làm nấy” đang làm thui chột khả năng sáng tạo kiến trúc tổng thể, xây dựng những công trình lớn cho quốc gia, mà ở đây là đóng góp cho khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Nhìn ra thế giới, việc tạo hành lang phát triển cho khối doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs) không phải là những khẩu hiệu suông mà được luật hóa nghiêm ngặt. Mục đích để mở rộng cửa cho SMEs trực tiếp tham gia, cạnh tranh công bằng.

Nhìn sâu vào hiện tượng "chảy máu chất xám" hiện nay, dưới lăng kính triết học Mác-Lênin, gốc rễ của vấn đề nằm ở mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất. Khi lực lượng sản xuất (con người, công cụ, trình độ) phát triển đến một mức độ nhất định đòi hỏi quan hệ sản xuất (bao gồm 3 mặt: sở hữu tư liệu sản xuất, tổ chức phân công lao động và phân phối sản phẩm) phải thay đổi để phù hợp và mở đường cho sự phát triển.

Chúng ta đang sở hữu một lực lượng sản xuất hùng hậu, hiện đại với hơn 80.000 doanh nghiệp và khoảng 1 triệu nhân lực công nghệ cao. Tuy nhiên, lực lượng này chưa được phát huy hết vai trò, tiềm năng của họ.

1784192103040-2224224564266808889-665299495323059420-6f7848fb885f22f6e117b38e585e0aa5.jpg
1Matrix là doanh nghiệp tiên phong cung cấp giải pháp blockchain toàn diện cho các tổ chức, doanh nghiệp khu vực dịch vụ công và tư. Đội ngũ kỹ sư 100% người Việt của 1Matrix trực tiếp thiết kế và triển khai Mạng Dịch vụ đa chuỗi Blockchain Việt Nam (VBSN)-hạ tầng blockchain "Make in Việt Nam". Hiện tại, VBSN đã được tích hợp rộng rãi trong các ứng dụng công-tư như định danh số, quản lý văn bằng chứng chỉ, chương trình ChainTracer truy vết các dự án có dấu hiệu đáng ngờ... nhằm tối ưu chi phí và nguồn lực cho các tổ chức.

Tiếp tục có cơ chế đột phá để thu hút nhân lực chất lượng cao

Nhìn lại cột mốc lịch sử năm 1981, Chỉ thị số 100 (Khoán 100) ra đời, bước đầu tháo gỡ được về phân công lao động khi cho phép nông dân cày cấy trên mảnh ruộng nhận khoán. Nhưng sản lượng chỉ tăng vọt trong ngắn hạn… Đến năm 1988, Nghị quyết số 10-NQ/TW về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp ngày 5/4/1988 ("Khoán 10") mới thực sự tạo ra một cuộc cách mạng vì lúc này sửa đổi toàn diện cả 3 mặt của quan hệ sản xuất, theo đó bổ sung quy định: Về sở hữu, giao quyền sử dụng đất ổn định tối thiểu 15 năm cho hộ cá thể; về phân phối, cho phép nông dân giữ lại tối thiểu 40% sản lượng và được quyền tự do tiêu thụ sản phẩm ở nơi có lợi, tôn trọng nguyên tắc “thuận mua vừa bán”. Người nông dân đã thực sự làm chủ mảnh ruộng, sản lượng càng lớn thì "của ăn của để" càng nhiều. Lợi ích kinh tế được bảo đảm đã trực tiếp kích thích năng suất của hàng triệu hộ gia đình.

Chân lý cốt lõi của Khoán 10 không nằm ở việc Nhà nước cầm tay chỉ việc. Xét về thực chất thể chế, Nghị quyết đã kiến tạo cơ chế thị trường, trao cho người sản xuất tự do tiêu thụ sản phẩm sau nghĩa vụ, tự chủ sản xuất kinh doanh, tự quyết kế hoạch theo tín hiệu cầu, được mua bán "thuận mua vừa bán", được giữ phần lớn thành quả lao động. Chính việc gỡ bỏ điểm nghẽn này, đưa quan hệ sản xuất về thế cân bằng và phù hợp lực lượng sản xuất đã tạo ra bùng nổ về năng suất.

Từ tinh thần, hiệu quả của "Khoán 10", chúng ta cần tiếp tục có những chính sách điều chỉnh quan hệ sản xuất nhằm phân công lại vai trò, phát huy hoàn toàn sức lao động khối tư nhân. Ở những quốc gia phát triển, Nhà nước luôn là khách hàng lớn nhất, là "bệ đỡ" vững chắc nhất để doanh nghiệp cất cánh. Việt Nam chúng ta cũng hoàn toàn có thể trở thành thị trường thử nghiệm khổng lồ và bệ đỡ vững chắc cho phát triển của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số nước nhà bởi khi doanh nghiệp khối tư nhân được trao cơ hội, họ sẽ tham gia giải quyết các bài toán hóc búa của quốc gia, đồng thời đây cũng là cách nhà nước tạo lập môi trường để họ tích lũy đủ cả nguồn vốn lẫn kinh nghiệm tự tin vươn ra quốc tế.

Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 79-NQ/TW, ngày 6/1/2026 về phát triển kinh tế nhà nước, trong đó khẳng định: "Kinh tế Nhà nước là thành phần đặc biệt quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Nền tảng của kinh tế Nhà nước bao gồm các nguồn lực do Nhà nước nắm giữ, quản lý và chi phối hoạt động nhằm thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội, ổn định vĩ mô và bảo đảm an ninh, quốc phòng…".

Bên cạnh đó, Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 4/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân, nêu rõ: ...Xóa bỏ triệt để nhận thức, tư tưởng, quan niệm, thái độ định kiến về kinh tế tư nhân Việt Nam; đánh giá đúng vai trò quan trọng của kinh tế tư nhân đối với phát triển đất nước; nuôi dưỡng, khuyến khích tinh thần kinh doanh, đổi mới sáng tạo của người dân, doanh nghiệp, tôn trọng doanh nghiệp, doanh nhân, xác định doanh nhân là người chiến sĩ trên mặt trận kinh tế; bảo đảm đầy đủ quyền sở hữu tài sản, quyền tự do kinh doanh, quyền cạnh tranh bình đẳng, được tự do kinh doanh các ngành nghề pháp luật không cấm; tạo dựng, củng cố niềm tin giữa Nhà nước và khu vực kinh tế tư nhân; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp và doanh nhân; bảo đảm kinh tế tư nhân cạnh tranh bình đẳng với các thành phần kinh tế khác trong tiếp cận cơ hội kinh doanh và các nguồn lực của nền kinh tế, nhất là vốn, đất đai, công nghệ, nhân lực, dữ liệu và các nguồn lực hợp pháp khác của đất nước theo quy định của pháp luật....

Kinh tế Nhà nước là một phạm trù vĩ mô, bao trùm và rộng lớn. Đây là tổng thể các nguồn lực kinh tế mà Nhà nước nắm giữ để điều tiết vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội và định hướng sự phát triển của đất nước. Doanh nghiệp Nhà nước thực hiện các nhiệm vụ kinh tế-xã hội mà Nhà nước giao ở những lĩnh vực an ninh-quốc phòng, hạ tầng cốt yếu, an sinh xã hội, hoặc các lĩnh vực mà doanh nghiệp tư nhân không thể làm... Doanh nghiệp tư nhân rất cần các chính sách để cạnh tranh bình đẳng như Nghị quyết 68 đã nêu. Từ đó, phát huy tối đa năng lực tạo ra của cải cho xã hội như "Khoán 10" đã triển khai….

Được kích hoạt hiệu quả, nguồn lực chất xám trong toàn xã hội sẽ chuyển hóa thành động lực nội sinh vô cùng to lớn, góp phần nâng cao khả năng tự cường của nền kinh tế đất nước.

Có thể bạn quan tâm