Cần một cơ chế để người học tham gia tạo ra công nghệ

Nhân lực công nghệ chiến lược không thể được hình thành đầy đủ trong phạm vi một chương trình đào tạo mà người học cần được tiếp cận đồng thời với tri thức chuyên sâu, bài toán thực tế, chuyên gia và hạ tầng nghiên cứu.

Nhân lực công nghệ chiến lược cần được tiếp cận đồng thời với tri thức chuyên sâu, bài toán thực tế, chuyên gia và hạ tầng nghiên cứu. (Ảnh: FPT)
Nhân lực công nghệ chiến lược cần được tiếp cận đồng thời với tri thức chuyên sâu, bài toán thực tế, chuyên gia và hạ tầng nghiên cứu. (Ảnh: FPT)

Sau một năm triển khai Nghị quyết số 71-NQ/TW, quy mô đào tạo đã tăng: tỷ lệ nhập học các ngành STEM năm 2026 tăng 33,6%; khoảng 110.000 sinh viên theo học các ngành kỹ thuật then chốt và công nghệ chiến lược; 90 chương trình kỹ sư tài năng, thạc sĩ STEM được triển khai tại 23 cơ sở giáo dục đại học.

Tuy nhiên, Thông báo số 160-TB/VPTW về kết quả một năm thực hiện Nghị quyết số 71-NQ/TW cũng đánh giá chuyển biến về chất lượng giáo dục, người học và nguồn nhân lực chưa thật sự rõ nét. Với đào tạo nhân lực công nghệ chiến lược, yêu cầu này đặt ra một câu hỏi cụ thể: Làm thế nào để sự gia tăng về số ngành, chương trình và người học tạo thành năng lực nghiên cứu, làm chủ công nghệ và phát triển sản phẩm?

Từ tăng nguồn tuyển đến bảo đảm năng lực đào tạo

Theo số liệu của Bộ Giáo dục và Đào tạo vào tháng 9/2025, gần 90% trường có hợp tác với doanh nghiệp về thực tập cho sinh viên, khoảng 70% doanh nghiệp tài trợ học bổng và ngày hội việc làm, nhưng tỷ lệ doanh nghiệp cùng tham gia đào tạo hoặc nghiên cứu chỉ khoảng 30%. Theo một nghiên cứu của Thạc sĩ Đỗ Thị Ngọc Tú, Trường đại học Hải Dương công bố tháng 3/2025, các hình thức hợp tác chủ yếu tập trung vào thực tập, còn thiếu cơ chế liên kết chặt chẽ trong thực tập, nghiên cứu và tuyển dụng.

Liên kết giữa nhà trường và doanh nghiệp không phải chủ trương mới, vấn đề nằm ở độ sâu của liên kết. Thứ nhất, mục tiêu và nhịp vận hành của các bên chưa thực sự đồng bộ. Nhà trường đào tạo theo chương trình và chuẩn đầu ra, còn doanh nghiệp vận hành theo thị trường, đơn hàng và năng suất; dành nguồn lực cho đào tạo là chi phí thực tế. Nhiều sản phẩm từ đề tài Nhà nước cũng chưa ra thị trường do vướng quy định và thiếu doanh nghiệp tiếp nhận.

Thứ hai, hành lang pháp lý đã được tháo gỡ nhưng vẫn còn những khoảng trống trong thực thi liên kết. Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo 2025 làm rõ hơn quyền đối với kết quả nghiên cứu theo tỷ lệ đóng góp. Tuy nhiên, chính văn bản chính sách cũng nêu những hạn chế của hình thức thỉnh giảng hiện nay: giảng viên thỉnh giảng làm việc ngắn hạn, theo học phần nên ít tham gia thường xuyên vào xây dựng chương trình, nghiên cứu khoa học hay bảo đảm chất lượng.

Thứ ba, vai trò của người học còn khá thụ động. Nếu hợp tác chủ yếu là thực tập, học bổng hoặc tuyển dụng, sinh viên vẫn chủ yếu tiếp nhận cơ hội. Liên kết sâu hơn cần đưa người học vào dự án, nghiên cứu hoặc phát triển sản phẩm cùng doanh nghiệp và viện nghiên cứu, đồng thời ghi nhận đóng góp và gắn với lộ trình dài hạn.

Kinh nghiệm quốc tế: liên kết phải được thể chế hóa và có nguồn lực

Nhật Bản xây dựng cơ chế bổ nhiệm chéo cho phép chuyên gia đồng thời làm việc tại trường đại học, viện nghiên cứu công và doanh nghiệp. Trong lĩnh vực bán dẫn, liên kết được tổ chức theo vùng. Chẳng hạn, Cục Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp Kyushu cùng hiệp hội ngành đã lập Liên minh phát triển nhân lực bán dẫn Kyushu, gồm chính quyền trung ương và địa phương, doanh nghiệp và cơ sở học thuật.

Tại Trung Quốc, các nền tảng quốc gia tích hợp công nghiệp-giáo dục đã được xây dựng tại nhiều trường đại học trong các lĩnh vực như vi mạch, lưu trữ năng lượng, trí tuệ nhân tạo và công nghệ sinh học, với nhiều nền tảng có tổng kinh phí đầu tư cao nhất gần 500 triệu Nhân dân tệ (tương đương khoảng 1,94 nghìn tỷ đồng).

Tại Việt Nam, Samsung phối hợp với các trường đại học trong đào tạo sau đại học, học bổng, phòng thí nghiệm và dự án nghiên cứu; Viettel gắn học bổng thạc sĩ định hướng nghiên cứu với bài toán doanh nghiệp.

Gần đây, Tập đoàn FPT, Trường đại học FPT và Viện Quantum AI&Cyber Security (QACI) đã thiết lập chương trình hợp tác về phát triển nguồn nhân lực, nghiên cứu, làm chủ và ứng dụng công nghệ chiến lược. FPT sẽ xác định các bài toán ưu tiên và huy động chuyên gia, dữ liệu, hạ tầng, nền tảng công nghệ và môi trường thử nghiệm. Trường đại học FPT tổ chức đào tạo, phát triển đội ngũ nghiên cứu trẻ và chuẩn bị ứng viên cho các chương trình tiến sĩ. QACI xây dựng lộ trình nghiên cứu, tổ chức các nhóm chuyên môn và tập hợp chuyên gia, nhà khoa học, nghiên cứu sinh.

Ba bên cũng đặt mục tiêu đến năm 2041 đào tạo tối thiểu 30.000 nhân lực công nghệ chiến lược và hình thành ít nhất 100 tiến sĩ; tạo ra 1.500 công trình khoa học và tài sản trí tuệ, trong đó có tối thiểu 300 bằng sáng chế hoặc tài sản trí tuệ có khả năng ứng dụng; phát triển ít nhất 150 sản phẩm được thương mại hóa và ba sản phẩm có thị trường quốc tế.

Việc doanh nghiệp, trường đại học và viện nghiên cứu cùng tham gia tạo thêm điều kiện để đưa chuyên gia, hạ tầng, năng lực nghiên cứu và bài toán thực tế vào quá trình đào tạo giúp cho quá trình xây dựng năng lực nghiên cứu, phát triển và làm chủ công nghệ quốc gia, góp phần đáp ứng yêu cầu của Nghị quyết số 71-NQ/TW về chuyển từ hoàn thiện chính sách sang tổ chức thực hiện và tạo ra kết quả cụ thể.

Có thể bạn quan tâm