Lý luận phê bình có còn đồng hành cùng sáng tạo mỹ thuật?

Cùng cảnh một số lĩnh vực văn học nghệ thuật khác, lâu nay, mỹ thuật luôn trong tình trạng thiếu và yếu đội ngũ lý luận phê bình (LLPB). Và nguyên nhân, bên cạnh những cái khó bởi tính đặc thù của loại hình nghệ thuật này, còn nhiều điều đáng bàn về công tác đào tạo, quản lý…

Đóng tàu - tranh sơn dầu của La Viết Sinh.
Đóng tàu - tranh sơn dầu của La Viết Sinh.

Những dấu ấn đáng nhớ

Có thể coi năm 1925 với sự ra đời của Trường cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương ở Việt Nam là sự khởi đầu của mỹ thuật hiện đại nước nhà. Cuộc tranh luận học thuật về quan điểm đào tạo mỹ thuật giữa họa sĩ Nguyễn Đỗ Cung và các họa sĩ Lưu Văn Sìn, Trần Văn Cẩn, Hoàng Lập Ngôn, Lương Xuân Nhị, Nguyễn Khang phản bác lại quan điểm đến Việt Nam nhằm “đào tạo những người thợ mỹ thuật, chứ không phải những nghệ sĩ” của Giôn Se-rơ (JonChère), Giám đốc mới của trường vào năm 1939, được xem là dấu ấn tiền đề của nghiên cứu phê bình mỹ thuật.

Năm 1948, cùng với một số bài viết về hội họa, bài thuyết trình về sơn mài trong Hội nghị Văn hóa cứu quốc của họa sĩ Tô Ngọc Vân tạo nên cuộc tranh luận thẳng thắn của các nhà lãnh đạo và văn nghệ sĩ tên tuổi về hành trình “tìm mình”, tìm đường cho mỹ thuật Việt Nam. Trong thập kỷ 70 của thế kỷ 20, nhà nghiên cứu phê bình Thái Bá Vân đưa ra ý kiến có tính xác lập một quan niệm nghệ thuật tạo nên nhiều tranh luận sôi nổi, rằng: Hiện thực không phải là cái nhìn thấy bằng con mắt, mà là cái ta quan niệm bằng tâm tưởng. Tiếp đến, giai đoạn đất nước đổi mới, hội nhập ghi dấu một thời kỳ của LLPB mỹ thuật với những chủ đề lớn: Hội họa Việt Nam đang suy thoái?; Nghệ thuật trừu tượng, tranh trừu tượng ở Việt Nam; Nghệ thuật đương đại và mỹ thuật đương đại Việt Nam... Những diễn đàn này thu hút đông đảo nghệ sĩ tham gia với nhiều tên tuổi như Nguyễn Quân, Vũ Giáng Hương, Trần Lưu Hậu, Thái Bá Vân, Phan Cẩm Thượng, Đào Minh Tri, Lê Quốc Bảo, Lương Xuân Đoàn, Trần Thức, Hải Yến, Nguyễn Đỗ Bảo… Những năm qua, bằng các công trình nghiên cứu, bài viết trên báo chí, truyền hình; nhiều hội thảo, tọa đàm, giao lưu, giới LLPB đã góp phần làm cầu nối, đưa đời sống mỹ thuật tiếp cận rộng rãi hơn với công chúng và xã hội. Một số cuốn sách có giá trị được trong và ngoài giới ghi nhận như Mỹ thuật Lý Trần - Lê sơ của Viện Mỹ thuật Việt Nam; Con mắt nhìn cái đẹp và Mỹ thuật Việt Nam thế kỷ XX của Nguyễn Quân; Mỹ thuật của người Việt và Mỹ thuật ở làng của Phan Cẩm Thượng...

Có thể thấy, suốt một thời gian dài, LLPB giữ vai trò không thể thiếu trong lịch sử phát triển mỹ thuật nước nhà, trở thành người bạn đồng hành, thúc đẩy quá trình sáng tạo từ tư duy lý luận đến nhận thức, đánh giá tác phẩm.

Có phải đã hết song hành?

Khoảng 20 năm trở lại đây, LLPB và sáng tác mỹ thuật đã dần xa cách. Nhìn lại hoạt động LLPB mỹ thuật hiện nay, có thể thấy sự thiếu và yếu về đội ngũ; chuyên môn, phê bình mang tính học thuật còn ít. LLPB đang đi theo hai xu hướng chính: một số ít nghiên cứu mỹ thuật cổ; đa số trở thành những người viết bài, đưa tin về hoạt động mỹ thuật theo xu thế báo chí thị trường, nhiều khi cố tạo sự kiện bằng những ý kiến gây sốc để bài viết của mình được chú ý nhằm tự "lăng-xê" tên tuổi. Đáng buồn nữa, xuất hiện xu hướng một số nghệ sĩ sử dụng truyền thông để tự "đánh bóng" bằng phát ngôn về những vấn đề ngoài mỹ thuật, nghệ thuật, nhiều khi trở thành kệch cỡm, phản cảm. Mục đích thực dụng của những "chiêu trò" tự pi-a (PR), tâng bốc lẫn nhau thường nhằm bán tác phẩm, kiếm tìm giải thưởng, tài trợ; gây sự chú ý cho các tổ chức nước ngoài... Trong xu thế hội nhập hiện nay, sáng tác mỹ thuật đặt ra những vấn đề cần lý giải, đánh giá, nhưng phần lớn các bài viết đều theo cách khen một tí, chê một tí; thiếu tính nghiên cứu lý luận và kiến giải sâu sắc. Điều này cũng bởi thực tế rất ít các nhà LLPB, nhà báo kề vai sát cánh, “ba cùng” với giới nghệ sĩ nên khó có thể nắm bắt những quan điểm sáng tác đang đổi thay; chia sẻ bao lo toan, trăn trở của họ trong mưu sinh và sáng tạo nghệ thuật.

Theo nhà báo, nhà LLPB mỹ thuật Lê Quang Vinh, nguyên nhân sự im ắng, nhạt nhòa của báo giới về hoạt động mỹ thuật Việt Nam thời kỳ sau mở cửa đến nay là bởi sự thờ ơ trong quảng bá của các cơ quan quản lý văn hóa, báo chí; năng lực chuyên môn có hạn của những người viết về mỹ thuật nước nhà giai đoạn này và sự “tránh động chạm” của giới LLPB. Có chăng, đời sống mỹ thuật được thông tin “nóng” trên báo chí chỉ là những vụ việc liên quan yếu tố mỹ thuật như sử dụng linh vật ngoại lai, tôn tạo di tích tùy tiện; tranh cổ động nhái ảnh, ý tưởng họa sĩ nước ngoài; nạn chép tranh, bán tranh giả… hay chăm chút cho những sự kiện nhóm, cá nhân. Có ý kiến cho rằng, thời gian qua, phê bình mỹ thuật ở Việt Nam không phê bình gì cả (?!).

Còn lắm gian nan

Mỹ thuật là loại hình nghệ thuật mang tính đặc thù cho nên không dễ có được đông đảo công chúng hâm mộ. Đó cũng chính là trở lực đối với việc phát triển đội ngũ LLPB, khi những yêu cầu, điều kiện để có thể làm công việc này một cách nghiêm túc không hề giản đơn so với nhiều loại hình nghệ thuật khác. Bên cạnh đó, cũng cần nhìn nhận cả những nguyên nhân khách quan, chủ yếu thuộc công tác quản lý và đào tạo. Ngoài địa chỉ duy nhất lâu nay là Trường đại học (ĐH) Mỹ thuật Việt Nam (Hà Nội), vài năm gần đây mới có thêm hai trường đại học mở khoa LLPB là Mỹ thuật công nghiệp Hà Nội và Mỹ thuật TP Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, số lượng sinh viên theo học chỉ trên dưới chục người mỗi khóa; và rất ít trong số đó khi ra trường theo nghiệp, hầu hết dần rơi rụng, chuyển nghề. Trường ĐH Mỹ thuật TP Hồ Chí Minh có năm không tuyển được sinh viên LLPB. Năm 2015, Trường ĐH Mỹ thuật Việt Nam chỉ có chín sinh viên vào ngành này (dù hai năm mới tuyển một lần). Theo Hiệu trưởng, PGS,TS Lê Văn Sửu, do nhu cầu xã hội với ngành LLPB mỹ thuật quá ít, sinh viên ra trường khó kiếm được việc làm; bản thân công việc này vất vả, thu nhập, nhuận bút thấp không bảo đảm cuộc sống nên ít người say mê. Nhìn lại đội ngũ hội viên ngành LLPB Hội Mỹ thuật Việt Nam bao năm qua, thấy con số luôn ở mức khiêm tốn, chỉ hơn 50 người. Hội viên cao tuổi nhất là GS Vũ Khiêu vừa tròn 100 tuổi; một vài hội viên trẻ nhất thuộc thế hệ 7X; khoảng 70% ở lứa tuổi hơn 60(!).

Để phát triển LLPB mỹ thuật, trước hết, cần chú trọng công tác đào tạo đội ngũ. Điều đáng chú ý là hiện nay các trường chỉ tuyển được học sinh tốt nghiệp phổ thông; trong khi nên khuyến khích các sinh viên đã tốt nghiệp văn học, lịch sử hoặc sáng tác mỹ thuật theo ngành này. Bên cạnh đó, cũng rất cần những bậc thầy năng lực, tâm huyết làm giảng viên cơ hữu hoặc thỉnh giảng. Trong công tác quản lý và hoạt động nghề nghiệp, cần tạo điều kiện cho người làm LLPB như Hội Mỹ thuật Việt Nam nên đẩy mạnh nâng cao nghiệp vụ, phát triển đội ngũ, đặc biệt quan tâm lớp trẻ và nâng mức hỗ trợ cho LLPB ngang bằng với sáng tác; Hội đồng LLPB văn học, nghệ thuật trung ương cần có những giải pháp, việc làm cụ thể trong hỗ trợ bồi dưỡng lực lượng LLPB mỹ thuật… Ngoài ra, các cơ quan văn nghệ, báo chí cũng cần tạo diễn đàn, dành thời lượng, “đất” cho hoạt động này. Và hơn ai hết, tự thân các nhà LLPB phải thật sự nhiệt huyết, say mê bằng nỗ lực học hỏi nâng cao trình độ; sống hòa mình vào đời sống mỹ thuật đương đại, gần gũi giới sáng tác; không né tránh những vấn đề cần tranh luận, làm rõ và phê bình đúng lương tâm, trách nhiệm.

Có thể nói, trong cái khó của hoạt động mỹ thuật nói riêng, toàn cảnh văn học nghệ thuật nước nhà nói chung hiện nay, vai trò và trách nhiệm của những người làm LLPB càng được đặt ra với nhiều thử thách. Làm thế nào củng cố và phát triển đội ngũ, để LLPB thật sự trở thành người bạn đồng hành với sáng tác, góp phần xây dựng nền mỹ thuật Việt Nam hiện đại trong bối cảnh hội nhập? Thiết nghĩ, công việc đó không chỉ thuộc về những người làm LLPB.

Có thể bạn quan tâm