Thời của tập đoàn

Xu hướng lên tập đoàn

Ở Việt Nam, tuy chưa có cái tên nào đủ để sánh vai với những tên tuổi nói trên, song cơ hội phát triển và khẳng định mình cho các doanh nghiệp trong nước đang rộng mở, nhất là khi vị thế của Việt Nam đang được đặt ở vị trí xứng đáng.

Với quá trình hình thành và phát triển từ hàng trăm năm nay, ở mỗi nước, tập đoàn lại được gọi bằng những cái tên khác nhau. Nhưng dù gọi theo bất cứ tên nào, thì các tập đoàn kinh doanh trên thế giới đều có những đặc trưng là quy mô tài chính lớn, phạm vi hoạt động rộng, thậm chí trên phạm vi toàn cầu; kinh doanh đa ngành, đa lĩnh vực. Đáng chú ý là, các tập đoàn luôn có chiến lược sản phẩm và hướng đầu tư thay đổi cho phù hợp với sự phát triển của tập đoàn và môi trường kinh doanh, nhưng mỗi ngành đều có định hướng chủ đạo, lĩnh vực đầu tư mũi nhọn với những sản phẩm đặc trưng của tập đoàn.

Tại Việt Nam, điều kiện để hình thành các tập đoàn kinh tế cũng được các chuyên gia cho là "đang thuận lợi". Tuy nhiên, trong hơn 200.000 doanh nghiệp đang hoạt động trong nền kinh tế, vẫn còn hiếm những doanh nghiệp mà tên gọi có thêm hai chữ "Tập đoàn".

Trong khối doanh nghiệp nhà nước tới nay, mới chỉ có vài tập đoàn được hình thành ở những lĩnh vực quan trọng như Tập đoàn Dầu khí, Tập đoàn Điện lực, Tập đoàn công nghiệp Than - Khoáng sản, Tập đoàn Bưu chính - Viễn thông, Tập đoàn Dệt may, Tập đoàn Công nghiệp tàu thuỷ Vinashin... Còn với khối doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác, hai chữ "tập đoàn" gắn với tên doanh nghiệp còn rất hiếm hoi.

TS. Trần Tiến Cường, Trưởng Ban Nghiên cứu cải cách và phát triển doanh nghiệp (Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương) cho rằng, việc hình thành các tập đoàn kinh tế hiện nay là tất yếu của đổi mới doanh nghiệp nhà nước trong quá trình cạnh tranh, hội nhập, có sự giao lưu, mở cửa khi các công ty, các tập đoàn lớn của nước ngoài vào Việt Nam.

Tất nhiên, sự thuận lợi này còn được hậu thuẫn bởi điều kiện kinh tế và pháp lý đã cho phép. Nền kinh tế không còn bị quản lý bằng cơ chế kế hoạch hóa tập trung, bằng những mệnh lệnh hành chính đơn thuần. Bên cạnh đó, Luật Doanh nghiệp, Luật Doanh nghiệp nhà nước cũng cho phép hình thành nhiều hình thức công ty, quy định nhiều tư cách pháp nhân, cho phép liên doanh, liên kết, đầu tư ra ngoài.

Tuy nhiên, điều khiến người ta quan tâm nhiều hơn cả không phải việc được gọi là "tập đoàn", mà là hoạt động của các tập đoàn có như mong đợi và mang đúng nghĩa của tập đoàn hay không.

"Chuyển sang tập đoàn là một quá trình và quyết định phê duyệt thành lập tập đoàn mới là bước khởi đầu. Để có thể tạo ra bước chuyển thực sự thì còn phải có thời gian, phải có những bước đi vào bản chất, thay mối quan hệ trên-dưới của tổng công ty trước đây thành một tổ hợp đan xen, hỗ trợ", ông Cường nhận xét.

Ông Trần Cảnh, Tổng giám đốc Tập đoàn Dầu khí khẳng định, tập đoàn hơn hẳn tổng công ty ở cơ chế. Trong cơ chế mới, tập đoàn chỉ giải quyết các việc chức năng chung, còn các việc cụ thể thì các tổng công ty, công ty bên dưới sẽ làm theo chức năng, trách nhiệm của mình. Vì thế, công tác quản lý điều hành, ra quyết định được rõ ràng hơn, đặc biệt là trong điều kiện cổ phần hóa, thì người lãnh đạo không chỉ làm cho Nhà nước, mà còn làm cho tập thể, cổ đông. Việc kiểm soát của các cổ đông cũng chặt chẽ hơn, không chung chung nữa.

Ông Phạm Lê Thanh, Tổng giám đốc Tập đoàn Điện lực cho rằng, quyền tự chủ của tập đoàn và các đơn vị con cũng sẽ phải vươn lên khi hoạt động theo cơ chế tập đoàn. Hoạt động của mô hình tổng công ty và tập đoàn cũng khác nhau vì tổng công ty thao túng bằng mệnh lệnh hành chính, còn tập đoàn là nhà đầu tư tài chính tham gia hoạt động của công ty con thông qua người điều hành, hoặc thông qua phần vốn góp của mình.

Giấc mơ có thật

Trở lại với thời gian, những năm 1995-1996, khi Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định 91 thành lập 18 tổng công ty là đã có ý tạo dựng những "quả đấm thép trong nền kinh tế". Tuy nhiên, trên thực tế, với quy mô hoạt động, vốn liếng và mô hình tổ chức của mình, các tổng công ty vẫn chưa tạo ra những bước chuyển biến về chất theo hướng nhân rộng lên sức mạnh của từng công ty khi cùng đứng trong tổng công ty. Đơn cử, nếu xem vốn là vấn đề "cốt tử", thì hầu hết các tổng công ty lớn của Nhà nước lúc đó chưa phải "mẹ - con" thực sự vì "mẹ" không có vốn, nên không chi phối được "con".

TS. Trần Tiến Cường cho rằng, trước khi hình thành các tập đoàn trong một số lĩnh vực quan trọng, thì chỉ có ba tổng công ty trong lĩnh vực điện lực, dầu khí, bưu chính - viễn thông là chiếm xấp xỉ 65% tổng vốn tự bổ sung của tất cả các tổng công ty 91 . Nguồn vốn huy động trong xã hội bị hạn chế do cơ cấu đơn sở hữu là chủ yếu. Số tổng công ty có phân công chuyên môn hóa, hợp tác hóa mạnh mẽ còn quá ít (trừ Tổng công ty Điện lực, Bưu chính - Viễn thông...). Với nhiều tổng công ty khác, do mang tính tập hợp các doanh nghiệp thành viên cùng ngành nghề, lĩnh vực, sản phẩm, đối tượng khách hàng và thị trường, nên đã có những xung đột về lợi ích.

Chính vì vậy, khi chuyển một số tổng công ty 91 sang thành tập đoàn, các chuyên gia kinh tế cho rằng, không nên cứng nhắc một mô hình tập đoàn cụ thể nào đối với tất cả các tổng công ty. "Một mô hình thành công đối với ngành khai khoáng như Tổng công ty Than chẳng hạn chưa chắc đã hiệu quả đối với tổng công ty sản xuất như xi-măng", bà Allanda McConnell, Công ty Ernst & Young Việt Nam nói và khẳng định: các tập đoàn cần phân tích thấu đáo chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp, từ đó lựa chọn hướng đi cho mình".

Dẫu để trở thành tập đoàn mạnh đòi hỏi rất nhiều thời gian và nguồn lực, nhưng đó là ước mơ và kế hoạch mà không ít doanh nghiệp nghĩ tới. Và các tập đoàn của Việt Nam dù mới đi những bước đầu tiên trong mô hình tập đoàn, nhưng hoàn toàn có thể mơ ước tới ngày thành danh như Motorola, Microsoft, Intel, hay Samsung, LG... Một giấc mơ có thật.

Có thể bạn quan tâm