Tạo bệ phóng thể chế cho ngân hàng vươn tầm châu lục

Nghị quyết số 79-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế Nhà nước đã xác định rõ vai trò then chốt của các ngân hàng thương mại Nhà nước trong việc ổn định hệ thống, điều tiết thị trường tiền tệ, cung ứng vốn chủ lực cho nền kinh tế, đồng thời đi đầu về quy mô, năng lực quản trị, trình độ công nghệ và chuẩn mực hoạt động.

Nghị quyết 79 đã xác định rõ vai trò then chốt của các ngân hàng thương mại Nhà nước.
Nghị quyết 79 đã xác định rõ vai trò then chốt của các ngân hàng thương mại Nhà nước.

Mục tiêu đề ra trong Nghị quyết 79-NQ/TW đến năm 2030 có ít nhất 3 ngân hàng thương mại Nhà nước nằm trong nhóm 100 ngân hàng lớn nhất khu vực châu Á về tổng tài sản, thể hiện tầm nhìn dài hạn và yêu cầu cao về chất lượng tăng trưởng. Đây không chỉ là mục tiêu về thứ hạng, mà là yêu cầu nâng tầm các định chế tài chính trụ cột quốc gia, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững của đất nước trong bối cảnh hội nhập sâu rộng.

Tăng cường năng lực tài chính, nâng cao chuẩn mực quản trị

Hiện nay, nhóm ngân hàng thương mại Nhà nước chủ lực gồm: Vietcombank, BIDV, VietinBank và Agribank chiếm tỷ trọng lớn về tổng tài sản, tín dụng và huy động vốn toàn hệ thống, đóng vai trò quan trọng trong việc dẫn dắt thị trường và bảo đảm an toàn hệ thống.

Theo Chủ tịch Hội đồng Quản trị Vietcombank Nguyễn Thanh Tùng, Nghị quyết 79-NQ/TW đã xác định rõ vai trò then chốt của các ngân hàng thương mại Nhà nước trong việc ổn định hệ thống, điều tiết thị trường tiền tệ, cung ứng vốn chủ lực cho nền kinh tế, đồng thời đi đầu về quy mô, năng lực quản trị, trình độ công nghệ và chuẩn mực hoạt động.

Thực tiễn những năm qua cho thấy, trong bối cảnh kinh tế thế giới và trong nước còn nhiều biến động, các ngân hàng thương mại Nhà nước luôn tiên phong thực hiện chủ trương điều hành của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước; chủ động điều chỉnh lãi suất, cơ cấu lại thời hạn trả nợ, hỗ trợ doanh nghiệp và người dân; đồng thời giữ vững các chỉ tiêu an toàn hoạt động. Vai trò “bộ đệm” của các ngân hàng trụ cột đã góp phần quan trọng củng cố niềm tin thị trường, ổn định kinh tế vĩ mô.

Việc Nghị quyết 79-NQ/TW đặt mục tiêu có ít nhất 3 ngân hàng thương mại Nhà nước lọt vào nhóm 100 ngân hàng lớn nhất khu vực châu Á về tổng tài sản vừa là yêu cầu nâng cao năng lực nội tại, đồng thời khẳng định vị thế của hệ thống tài chính Việt Nam trong khu vực.

Để hiện thực hóa mục tiêu trên, yêu cầu đặt ra là các ngân hàng thương mại Nhà nước phải đồng thời mở rộng quy mô và nâng cao chất lượng tăng trưởng. Theo lãnh đạo Vietcombank, ngân hàng xác định tiếp cận mục tiêu không chỉ bằng tăng tổng tài sản, mà bằng quá trình nâng tầm toàn diện về năng lực tài chính, chất lượng tăng trưởng, chuẩn mực quản trị và vị thế khu vực. Bốn định hướng trọng tâm được xác định gồm: phát huy vai trò điều tiết và dẫn dắt thị trường; tăng cường năng lực tài chính, xác định vốn là nền tảng chính sách; đẩy mạnh chuyển đổi số, quản trị dữ liệu và ứng dụng công nghệ hiện đại trong quản trị rủi ro; đổi mới cơ chế nhân sự, nâng cao năng suất và hiệu quả hoạt động.

Trong bối cảnh yêu cầu tuân thủ các chuẩn mực quốc tế như Basel II, Basel III ngày càng cao, việc củng cố vốn tự có có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Hoạt động ngân hàng phụ thuộc trực tiếp vào quy mô và chất lượng vốn tự có để mở rộng tín dụng, đầu tư công nghệ và nâng cao năng lực chống chịu rủi ro. Điểm đáng chú ý của Nghị quyết 79-NQ/TW là cho phép sử dụng toàn bộ nguồn thu từ cổ phần hóa, thoái vốn nhà nước để bổ sung vốn điều lệ cho doanh nghiệp nhà nước thay vì nộp về ngân sách.

1bec7dbb0c8082dedb91-1538.jpg
Chủ tịch Hội đồng Quản trị Vietcombank Nguyễn Thanh Tùng.

Theo Chủ tịch Hội đồng Quản trị Vietcombank Nguyễn Thanh Tùng, giải pháp này có thể coi là một bước đột phá về tư duy đầu tư vốn của Nhà nước. Hoạt động ngân hàng có đặc thù là dư địa tăng trưởng, từ mở rộng tín dụng, đầu tư công nghệ đến đáp ứng các chuẩn mực quốc tế đều phụ thuộc trực tiếp vào quy mô và chất lượng vốn tự có. Trong nhiều năm qua, các ngân hàng thương mại Nhà nước, trong đó có Vietcombank, phải đồng thời cân đối giữa nhu cầu giữ lại lợi nhuận để tăng vốn với nghĩa vụ nộp cổ tức tiền mặt về ngân sách Nhà nước.

“Nghị quyết 79-NQ/TW đã tháo gỡ nút thắt này, đồng thời mở rộng không gian và công cụ đầu tư vốn cho Nhà nước thông qua việc cho phép sử dụng nguồn thu từ cổ phần hóa, thoái vốn nhà nước tại doanh nghiệp để bổ sung vốn điều lệ cho doanh nghiệp nhà nước, bao gồm các ngân hàng thương mại Nhà nước. Điều này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong bối cảnh hệ số an toàn vốn của nhóm ngân hàng thương mại Nhà nước hiện thấp hơn nhóm ngân hàng tư nhân và thấp hơn đáng kể so với nhiều ngân hàng trong khu vực, trong khi yêu cầu về chuẩn mực Basel và cạnh tranh quốc tế ngày càng cao”, ông Nguyễn Thanh Tùng khẳng định.

Riêng đối với Vietcombank, đây là cơ sở quan trọng để ngân hàng chủ động hơn trong chiến lược tăng vốn trung và dài hạn, qua đó tạo dư địa cho tăng trưởng quy mô, đầu tư mạnh mẽ hơn cho công nghệ, chuyển đổi số và hội nhập quốc tế. Quan trọng hơn, cơ chế này thể hiện rõ quan điểm của Đảng và Nhà nước: Tiếp tục đầu tư để xây dựng các ngân hàng trụ cột ngang tầm khu vực.

Hoàn thiện cơ chế thực thi, bảo đảm phát triển bền vững

Bên cạnh những định hướng lớn, yêu cầu đặt ra là phải tiếp tục hoàn thiện cơ chế thực thi để Nghị quyết 79-NQ/TW đi vào cuộc sống một cách đồng bộ, hiệu quả.

Cụ thể, cần bảo đảm tính đồng bộ trong chính sách về đầu tư vốn Nhà nước tại ngân hàng thương mại Nhà nước. “Nghị quyết 79-NQ/TW định hướng tiếp tục tăng vốn điều lệ cho các ngân hàng thương mại Nhà nước, do đó Vietcombank kiến nghị cho phép áp dụng linh hoạt các hình thức tăng vốn, bao gồm giữ lại lợi nhuận, bổ sung vốn từ nguồn thoái vốn nhà nước, phát hành riêng lẻ, phát hành cổ phiếu ưu đãi, kể cả cho người lao động, trên cơ sở bảo đảm vai trò chi phối của Nhà nước”, ông Nguyễn Thanh Tùng chia sẻ.

c7ae15e0c0cd4e9317dc-2228.jpg
Ngân hàng đẩy mạnh chuyển đổi số, quản trị dữ liệu và ứng dụng công nghệ hiện đại trong quản trị rủi ro.

Đồng thời, cần phân định rõ hơn giữa hoạt động kinh doanh và nhiệm vụ chính trị, nhiệm vụ không vì lợi nhuận của ngân hàng thương mại Nhà nước. Trong thực tế, các ngân hàng trụ cột thường tham gia xử lý, cơ cấu lại tổ chức tín dụng yếu kém, thực hiện các chương trình tín dụng chính sách, góp phần bảo đảm an toàn hệ thống.

Như Vietcombank hiện đang thực hiện nhiệm vụ cơ cấu lại Ngân hàng Xây dựng, nay là VCBNeo. Đây là nhiệm vụ chính trị quan trọng nhằm bảo đảm an toàn hệ thống, do đó, cần xây dựng cơ chế đặc thù cho ngân hàng trụ cột quốc gia và cơ chế phân định-bù đắp nhiệm vụ chính sách, để các ngân hàng thương mại Nhà nước thực thi vai trò điều tiết hệ thống một cách bền vững.

Một vấn đề quan trọng khác là đổi mới cách thức đánh giá ngân hàng trụ cột theo hướng dài hạn, không chỉ dựa trên chỉ tiêu lợi nhuận ngắn hạn, mà cần bổ sung tiêu chí về năng lực chống chịu rủi ro, vai trò điều tiết thị trường và mức độ hội nhập quốc tế. Đây là cách tiếp cận phù hợp với yêu cầu phát triển bền vững của hệ thống tài chính quốc gia.

Có thể thấy, mục tiêu đến năm 2030 có ít nhất 3 ngân hàng thương mại Nhà nước lọt top 100 ngân hàng lớn nhất khu vực châu Á về tổng tài sản vừa là cơ hội nhưng cũng vừa là thách thức, trách nhiệm lớn. Trong điều kiện kinh tế thế giới còn tiềm ẩn nhiều rủi ro, một hệ thống ngân hàng quốc doanh đủ mạnh sẽ là trụ đỡ quan trọng cho ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, điều hành linh hoạt lãi suất và tỷ giá, củng cố niềm tin thị trường.

Nghị quyết 79-NQ/TW vì vậy mang ý nghĩa sâu rộng, củng cố nền tảng thể chế cho phát triển hệ thống ngân hàng, tạo động lực để các ngân hàng trụ cột nâng cao năng lực cạnh tranh, từng bước tiệm cận chuẩn mực khu vực và quốc tế. Thành công của mục tiêu này không chỉ được đo bằng thứ hạng trên bảng xếp hạng, mà bằng khả năng bảo đảm an toàn hệ thống, đóng góp thiết thực cho quá trình phát triển nhanh, bền vững của nền kinh tế đất nước trong giai đoạn mới.

Có thể bạn quan tâm