Đây là sự kiện mang ý nghĩa chính trị và văn hóa sâu sắc. Cách đây 115 năm, vào ngày 5/6/1911, lịch sử dân tộc đã chứng kiến một cột mốc vĩ đại khi người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành rời Bến Nhà Rồng ra đi tìm đường cứu nước. Hành trang của Người khi ấy là một ý chí sắt đá và khát vọng giành độc lập cháy bỏng.
Hành trình vạn dặm ấy không chỉ mở ra bước ngoặt cho vận mệnh cách mạng Việt Nam, mà còn trở thành một biểu tượng bất diệt của lòng yêu nước, tinh thần tự lực tự cường và khát vọng tự do của cả một dân tộc.
Tọa đàm “Từ Bến Nhà Rồng: Hành trình kiến tạo tương lai” có sự tham dự của lãnh đạo Liên hiệp các Tổ chức hữu nghị Việt Nam, đại biểu Quốc hội, đại sứ, lãnh đạo các Hội hữu nghị và đông đảo sinh viên, thanh niên quan tâm đến lịch sử dân tộc.
Phát biểu khai mạc tọa đàm, bà Nguyễn Thúy Anh, Chủ tịch Hội Hữu nghị và Hợp tác Việt Nam-Pháp đã phác họa lại bối cảnh lịch sử của hành trình dấn thân ấy. Bà nhấn mạnh rằng, cách đây 115 năm, việc người thanh niên Nguyễn Tất Thành quyết định lên tàu Amiral Latouche-Tréville là một lựa chọn dũng cảm trong bối cảnh các phong trào yêu nước khác đang lâm vào bế tắc.
Tại nước Pháp, Người có cơ hội được tiếp xúc với các tư tưởng lớn của thời đại, trực tiếp quan sát đời sống chính trị, xã hội phương Tây để hình thành tư duy đối ngoại mang đậm bản sắc Hồ Chí Minh.
Theo bà Thúy Anh, hành trình bôn ba dài 3 thập kỷ qua nhiều quốc gia của Bác là biểu tượng cho những giá trị còn sống mãi trong lòng nhân dân Việt Nam như lòng yêu nước chân chính, tinh thần học hỏi thế giới, sức mạnh dân tộc luôn gắn liền với sức mạnh thời đại, bản lĩnh tự chủ và tinh thần đoàn kết quốc tế.
Tiếp nối dòng chảy lịch sử, Tiến sĩ Chu Đức Tính, nguyên Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh, đã trình bày tham luận chuyên sâu mang tên “Từ bến Sài Gòn: Hành trình đến độc lập, tự do”.
Tiến sĩ Chu Đức Tính đã tái hiện sinh động cuộc đời và sự nghiệp của Người từ thuở thiếu thời tại Nghệ An, đến giây phút quyết định rời cảng Sài Gòn. Theo Tiến sĩ Chu Đức Tính, các bậc tiền bối như Phan Chu Trinh, Phan Bội Châu hay Hoàng Hoa Thám là những con người yêu nước đáng khâm phục, nhưng con đường chưa thực sự phù hợp với thời đại. Tầm nhìn của chàng thanh niên Nguyễn Tất Thành có nhiều điều khác biệt và mới mẻ hơn: Tư duy độc lập và ý chí tự chủ mới là con đường phù hợp nhất với dân tộc.
Tiến sĩ Chu Đức Tính nhấn mạnh những năm tháng bôn ba gian khổ ở Pháp, Mỹ, Anh và Nga đã giúp Nguyễn Ái Quốc tiếp cận được ánh sáng của Luận cương Lênin, từ đó tìm thấy con đường cách mạng vô sản - con đường duy nhất để giải phóng dân tộc.
Trong khoảng thời gian 34 năm từ 1911 đến 1945, Người đã để lại 3 sáng lập vĩ đại: Đảng Cộng sản Việt Nam, Mặt trận Dân tộc thống nhất và nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tinh thần và tư tưởng ấy của Chủ tịch Hồ Chí Minh đến nay vẫn để lại những bài học quý giá cho thế hệ trẻ: tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm và luôn đặt lợi ích dân tộc lên trên hết.
Triết lý ngoại giao trên con đường ra đi tìm đường cứu nước và sự nghiệp đoàn kết quốc tế của Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng là một trụ cột quan trọng trong tư tưởng của Người. Đại sứ Nguyễn Phương Nga, nguyên Thứ trưởng Ngoại giao, nguyên Chủ tịch Liên hiệp các Tổ chức hữu nghị Việt Nam, trình bày qua tham luận “Tư tưởng Hồ Chí Minh về triết lý đối ngoại nhân dân”.
Đại sứ Nguyễn Phương Nga khẳng định, Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhà ngoại giao kiệt xuất, người đặt nền móng cho nền ngoại giao hiện đại Việt Nam, trong đó đối ngoại nhân dân là một bộ phận cấu thành đặc sắc.
Tư tưởng của Người đều bắt nguồn từ tình yêu thương con người sâu sắc và tư tưởng “lấy dân làm gốc” trong truyền thống của dân tộc. Chủ tịch Hồ Chí Minh chinh phục lòng người bằng đạo lý và tình người để “thêm bạn bớt thù”, biến kẻ thù thành bạn hoặc khiến họ trở nên hài hòa hơn.
Lịch sử cũng chứng minh “ba tầng mặt trận” mà Bác Hồ đã xây dựng có ý nghĩa to lớn đối với sự nghiệp cách mạng của nhân dân, bao gồm đoàn kết trong nước, đoàn kết Việt Nam-Lào-Campuchia và đoàn kết nhân dân thế giới.
Trong khuôn khổ chương trình, tọa đàm còn ghi nhận thêm nhiều ý kiến của các đại biểu và chuyên gia. Đại sứ Nguyễn Thị Bích Huệ, nguyên Đại sứ Việt Nam tại Italia, đã chia sẻ những câu chuyện xúc động về dấu ấn Chủ tịch Hồ Chí Minh tại đất nước “hình chiếc ủng”.
Đại sứ Nguyễn Thị Bích Huệ cho biết, tại Italia hiện có khoảng 21 quảng trường và địa danh mang tên Bác. Đây là một minh chứng cho tình cảm và sự ngưỡng mộ sâu sắc của bạn bè quốc tế dành cho Người.
Nhân dịp này, Đại sứ Nguyễn Thị Bích Huệ cũng đề cập đến cuốn truyện tranh về Bác được xuất bản tại Italia từ những năm 1960 và những người bạn Italia về sau đã gia nhập Đảng Cộng sản vì sự ngưỡng mộ chân tình dành cho Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Nguyên Đại sứ Việt Nam tại Pháp Nguyễn Thiệp nhắc tới tầm vóc Chủ tịch Hồ Chí Minh qua góc nhìn khách quan và sự hiểu biết thấu đáo của các học giả quốc tế như Sophie Quinn-Judge, William J. Duiker hay Pierre Brocheux.
Các chuyên gia lịch sử quốc tế thông qua những nguồn tư liệu xác thực từ nhiều ngôn ngữ khác nhau, cho tới tài liệu của Quốc tế Cộng sản, đều tìm thấy những điểm chung ở Chủ tịch Hồ Chí Minh những nhận định sâu sắc về đạo đức cao đẹp và chủ nghĩa yêu nước vĩ đại của Người.
Về phía các hội hữu nghị và hợp tác song phương, ông Nguyễn Đăng Phát, Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hội Hữu nghị Việt Nam-Nga, đã nhấn mạnh mối liên hệ đặc biệt giữa Chủ tịch Hồ Chí Minh với Liên Xô và nước Nga. Đây là giai đoạn lịch sử sáng ngời khi Người đã tìm thấy ánh sáng của chủ nghĩa Mác-Lênin.
Hội Hữu nghị Việt Nam-Nga luôn nỗ lực gìn giữ và phát huy di sản của Bác thông qua việc phối hợp với các đối tác Nga để nghiên cứu tư liệu, dịch thuật và xuất bản sách về Người. Ông Nguyễn Đăng Phát cũng nhắc tới các hoạt động giáo dục truyền thống thường xuyên được tổ chức tại các địa phương có di tích liên quan đến Bác như Đồng Tháp, Nghệ An, Cao Bằng… nhằm thu hút và dẫn dắt thế hệ trẻ.
Bà Phượng, một kiều bào 86 tuổi sinh ra tại New Caledonia trong một gia đình đi phu quê gốc Hải Phòng, vẫn còn giữ vẹn nguyên những kỷ niệm sâu sắc về tầm ảnh hưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với những người lao động Việt Nam ở nước ngoài. Bà hồi tưởng lại sự xúc động của một cô bé 5 tuổi và niềm hạnh phúc của bà con kiều bào đi phu ở xa xứ khi nghe tin về bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1945.
Một chi tiết đáng nhớ trong chia sẻ của bà Phượng là lời khuyên của cha, người dành sự trân trọng sâu sắc cho Chủ tịch Hồ Chí Minh. Hưởng ứng lời kêu gọi nếp sống tiết kiệm, văn minh, hiện đại của Bác và lời khuyên từ cha, bà Phượng vẫn giữ nguyên mái tóc ngắn suốt từ năm 1947 cho đến tận bây giờ.
Đại diện cho thế hệ trẻ tham dự tọa đàm, sinh viên Châu Anh (Trường đại học Ngoại ngữ, Đại học Quốc gia Hà Nội) đã chia sẻ niềm hạnh phúc và lòng biết ơn sâu sắc khi được sống và học tập trong một đất nước hòa bình, có nền tảng phát triển thuận lợi như hiện nay.
Nữ sinh Châu Anh nhấn mạnh rằng thế hệ trẻ luôn ý thức được những cơ hội mình đang có là nhờ vào sự hy sinh, ý chí kiên cường của các thế hệ đi trước. Biểu hiện rõ nhất của lòng biết ơn mà giới trẻ Việt Nam dành cho hành trình kiến tạo tương lai của Chủ tịch Hồ Chí Minh và thế hệ cha anh đi trước chính là sự nỗ lực vươn lên, không ngừng học hỏi và cống hiến.
Tọa đàm “Từ Bến Nhà Rồng: Hành trình kiến tạo tương lai” để lại những dư âm và bài học còn nguyên giá trị thời đại. Hành trình vạn dặm của người thanh niên Nguyễn Tất Thành từ năm 1911 ra đi tìm đường cứu nước không chỉ là ngọn đuốc soi đường cho nhân dân Việt Nam, mà còn trở thành động lực tiến vào kỷ nguyên mới.