Ngành gỗ Việt Nam tìm dư địa tăng trưởng từ đa dạng hóa thị trường

Đa dạng hóa thị trường xuất khẩu đang trở thành yêu cầu cấp thiết đối với ngành gỗ và nội thất Việt Nam hiện nay. Bên cạnh mở rộng địa bàn tiêu thụ, doanh nghiệp cần nâng cao năng lực thiết kế, xây dựng thương hiệu, bảo đảm nguồn gốc nguyên liệu hợp pháp và tăng cường kết nối, tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Ngành gỗ Việt Nam tìm dư địa tăng trưởng từ đa dạng hóa thị trường. (Ảnh: VŨ THÀNH)
Ngành gỗ Việt Nam tìm dư địa tăng trưởng từ đa dạng hóa thị trường. (Ảnh: VŨ THÀNH)

Mở rộng thị trường, giảm phụ thuộc

Theo ông Lê Hoàng Tài, Phó Cục trưởng Xúc tiến thương mại (Bộ Công thương), xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam năm 2025 đạt khoảng 17,2 tỷ USD. Trong 9 tháng đầu năm 2026, kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này ước đạt 13,43 tỷ USD, tăng 7,3% so với cùng kỳ năm trước.

Kết quả trên cho thấy nỗ lực duy trì sản xuất, thích ứng và tìm kiếm đơn hàng của doanh nghiệp trong nước. Tuy nhiên, tăng trưởng xuất khẩu cũng đặt ra yêu cầu nâng cao khả năng chống chịu trước những biến động kinh tế, rào cản thuế quan, chính sách thương mại và các biện pháp phòng vệ thương mại tại những thị trường lớn.

Tại hội nghị giao ban xúc tiến thương mại với hệ thống thương vụ Việt Nam ở nước ngoài 10/2026 với chủ đề “Đa dạng hóa thị trường, thúc đẩy xuất khẩu sản phẩm gỗ và nội thất Việt Nam”, đại diện cơ quan quản lý, hiệp hội và các thương vụ Việt Nam ở nước ngoài đã tập trung phân tích cơ hội tại nhiều thị trường, từ châu Âu, châu Á đến châu Đại Dương và Trung Đông. Những ý kiến tại hội nghị cho thấy dư địa tăng trưởng còn đáng kể, song để khai thác hiệu quả, doanh nghiệp cần có chiến lược tiếp cận phù hợp với đặc điểm từng thị trường.

Ông Ngô Sĩ Hoài, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam (VIFOREST), cho biết ngành gỗ Việt Nam đã hình thành hệ sinh thái tương đối hoàn chỉnh, từ rừng trồng, khai thác đến chế biến và xuất khẩu. Việt Nam cũng có vị thế cao trên thị trường thế giới về đồ gỗ nội, ngoại thất chế biến sâu.

Tuy vậy, ngành vẫn đối mặt với những điểm nghẽn đáng chú ý. Theo ông Hoài, xuất khẩu còn phụ thuộc nhiều vào thị trường Hoa Kỳ, chiếm hơn 50% kim ngạch, trong khi mô hình gia công theo đơn đặt hàng (OEM) khiến doanh nghiệp dễ bị tác động khi chính sách thương mại thay đổi. Các yêu cầu về xuất xứ, nguồn gốc nguyên liệu, chống phá rừng và chi phí logistics cũng tạo thêm áp lực cho hoạt động xuất khẩu.

ndo_br_screenshot-2026-10-8687.png
Hội nghị giao ban xúc tiến thương mại tháng 10/2026 với chủ đề “Đa dạng hóa thị trường, thúc đẩy xuất khẩu sản phẩm gỗ và nội thất Việt Nam”. (Ảnh: KIM DUNG)

Vì vậy, đa dạng hóa thị trường không nên chỉ dừng ở việc tìm thêm khách hàng cho những sản phẩm hiện có. Quan trọng hơn, doanh nghiệp cần chủ động nâng cao giá trị sản phẩm, tham gia sâu hơn vào thiết kế, phát triển thương hiệu và xây dựng năng lực cạnh tranh dài hạn.

Nhận diện đúng nhu cầu từng thị trường

Thông tin từ các thương vụ Việt Nam ở nước ngoài cho thấy mỗi thị trường có những đặc điểm tiêu dùng, yêu cầu kỹ thuật và cơ hội tiếp cận riêng, đòi hỏi doanh nghiệp lựa chọn sản phẩm và phương thức kinh doanh phù hợp.

Tại Hà Lan, bà Võ Thị Ngọc Diệp, Tham tán thương mại Việt Nam tại Hà Lan, cho biết trong 9 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam sang thị trường này đạt 138 triệu USD, tăng 86% so với cùng kỳ năm 2025. Hà Lan không chỉ là đối tác thương mại lớn của Việt Nam tại châu Âu mà còn là cửa ngõ logistics và trung tâm phân phối hàng hóa quan trọng vào Liên minh châu Âu (EU).

Theo bà Diệp, người tiêu dùng Hà Lan ưu tiên nội thất có thiết kế đơn giản, đa chức năng, tiết kiệm diện tích, bền và có nguồn gốc hợp pháp. Đây là những yêu cầu doanh nghiệp Việt Nam cần tính đến ngay từ khâu thiết kế và phát triển sản phẩm. Đồng thời, việc đáp ứng các quy định về truy xuất nguồn gốc, chống phá rừng, an toàn sản phẩm và hóa chất là điều kiện quan trọng để duy trì khả năng tiếp cận thị trường.

Tại Tây Ban Nha, ông Lưu Vạn Khang, Tham tán thương mại Việt Nam tại Tây Ban Nha, cho biết kim ngạch nhập khẩu gỗ và sản phẩm gỗ từ Việt Nam trong 7 tháng đầu năm 2026 đạt 9,38 triệu USD, tăng mạnh so với mức 3,94 triệu USD của năm 2025 và 1,8 triệu USD năm 2024. Tuy nhiên, đây cũng là thị trường cạnh tranh gay gắt, với hàng hóa từ Trung Quốc chiếm thị phần đáng kể.

Theo ông Khang, doanh nghiệp Việt Nam cần thay đổi cách tiếp cận, không chỉ cạnh tranh bằng giá mà phải kết hợp lợi thế về thiết kế, chất lượng, tính bền vững, khả năng truy xuất nguồn gốc và năng lực sản xuất linh hoạt. Những phân khúc như nội thất gia đình, nội thất ngoài trời, sản phẩm kết hợp mây tre đan và nội thất phục vụ khách sạn, nhà hàng, khu nghỉ dưỡng có thể được quan tâm.

Trong khi đó, Australia là thị trường có triển vọng đối với sản phẩm gỗ phục vụ xây dựng và nội thất. Bà Trần Thị Thanh Mỹ, Tham tán thương mại Việt Nam tại Australia, cho biết xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam sang thị trường này trong 9 tháng đầu năm 2026 đạt 125,4 triệu USD, tăng hơn 7% so với cùng kỳ.

Các sản phẩm có thế mạnh gồm nội thất gỗ, nội thất bọc đệm và ván ép công nghiệp phục vụ các dự án. Tuy nhiên, doanh nghiệp cần chú trọng yêu cầu về gỗ hợp pháp, truy xuất nguồn gốc, kiểm dịch đối với bao bì gỗ và tận dụng ưu đãi từ các hiệp định thương mại tự do.

Đổi mới xúc tiến thương mại, nâng giá trị sản phẩm

Từ thực tiễn các thị trường, yêu cầu đặt ra không chỉ là mở rộng danh sách đối tác mà còn phải đổi mới cách thức xúc tiến thương mại, tăng khả năng kết nối trực tiếp giữa doanh nghiệp Việt Nam với nhà nhập khẩu, hệ thống bán lẻ, nhà thiết kế và nhà thầu dự án.

ndo_br_screenshot-2026-10-8512.png
Ông Phùng Quốc Mẫn, Chủ tịch Hội Mỹ nghệ và Chế biến gỗ Thành phố Hồ Chí Minh (HAWA). (Ảnh: KIM DUNG)

Ông Phùng Quốc Mẫn, Chủ tịch Hội Mỹ nghệ và Chế biến gỗ Thành phố Hồ Chí Minh (HAWA), cho biết trong 9 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam đạt khoảng 13,3 tỷ USD, tăng 6,3% so với cùng kỳ. Sản phẩm gỗ Việt Nam hiện diện tại 137 quốc gia và vùng lãnh thổ. Theo ông, sự đồng hành của hệ thống thương vụ Việt Nam ở nước ngoài có ý nghĩa quan trọng trong cung cấp thông tin thị trường, xác định đối tác nhập khẩu phù hợp và quảng bá các hội chợ chuyên ngành trong nước.

Đáng chú ý, ông Lưu Vạn Khang đề xuất chuyển từ việc doanh nghiệp tham gia hội chợ riêng lẻ sang xây dựng khu gian hàng quốc gia mang thương hiệu “Vietnam Pavilion” tại các hội chợ quốc tế. Mô hình này có sự phối hợp giữa thương vụ, hiệp hội ngành gỗ và Liên minh Doanh nghiệp Việt Nam - châu Âu, từ tìm kiếm người mua, tổ chức kết nối giao thương đến theo dõi quá trình đàm phán và chốt đơn hàng sau hội chợ. Cách làm này hướng tới khắc phục tình trạng xúc tiến thương mại thiếu tính liên tục, đồng thời tăng khả năng nhận diện của sản phẩm Việt Nam tại thị trường nước ngoài.

Để hoạt động xúc tiến đạt hiệu quả thực chất, ông Ngô Sĩ Hoài đề xuất tăng cường cung cấp thông tin chi tiết về nhu cầu thị trường, phân khúc sản phẩm, mã hàng và kênh phân phối; hỗ trợ xác minh uy tín người mua, cảnh báo rủi ro thương mại; kết nối doanh nghiệp với các nhà bán lẻ, nhà thiết kế, nhà thầu; đồng thời theo dõi quá trình gửi mẫu, chào giá và đàm phán hợp đồng. Hiệp hội cũng đề xuất kế hoạch hành động 90 ngày, phối hợp giữa Cục Xúc tiến thương mại, các thương vụ và hiệp hội để lựa chọn từ 5 đến 7 thị trường ưu tiên, xây dựng hồ sơ số doanh nghiệp và lập kế hoạch xúc tiến thương mại năm 2027.

Từ những định hướng trên, có thể thấy mở rộng thị trường là điều kiện cần, nhưng nâng cao giá trị và năng lực cạnh tranh mới là yếu tố quyết định khả năng phát triển bền vững của ngành gỗ Việt Nam. Cùng với việc bảo đảm nguồn nguyên liệu hợp pháp, đáp ứng tiêu chuẩn của từng thị trường và chủ động thích ứng với các rào cản thương mại, doanh nghiệp cần từng bước chuyển từ gia công sang thiết kế, phát triển sản phẩm và xây dựng thương hiệu riêng.

Sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan quản lý, hiệp hội, thương vụ và doanh nghiệp sẽ giúp hoạt động xúc tiến thương mại đi vào chiều sâu, gắn với nhu cầu thực tế của thị trường và khả năng cung ứng trong nước. Đây cũng là hướng đi quan trọng để ngành gỗ Việt Nam khai thác tốt hơn các cơ hội xuất khẩu, giảm thiểu rủi ro từ sự phụ thuộc vào một số thị trường và nâng cao vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu.

Có thể bạn quan tâm