Tỉnh An Giang đã có những cố gắng trong thực hiện các chỉ số để tăng sáu bậc trên bảng xếp hạng. Thế nhưng, đằng sau thứ tự xếp hạng trên vẫn còn quá nhiều nỗi lo để An Giang nhìn nhận thực tế, cải thiện mạnh mẽ hơn nữa những chỉ số thành phần cho xứng tầm là tỉnh trọng điểm vùng ĐBSCL.
Tăng nhưng chưa vui
Nếu lấy trị tuyệt đối về thứ tự bảng xếp hạng chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) hằng năm, năm 2017 vừa qua, tỉnh An Giang đã có những bước chuyển khá tích cực. Năm 2017, PCI tỉnh An Giang đạt 62,16 điểm (tăng 4,37 điểm, tăng sáu bậc so với năm 2016), xếp thứ 32/63 tỉnh, thành phố và thuộc nhóm điều hành “trung bình”. So với 13 tỉnh, thành trong khu vực ĐBSCL, An Giang tăng hai bậc, đứng thứ 7/13 tỉnh, thành phố; trên Trà Vinh, Tiền Giang, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Hậu Giang và Cà Mau.
So với năm 2016, PCI tỉnh An Giang năm 2017 có tất cả tám chỉ số tăng điểm. Trong đó có bốn chỉ số tiếp tục tăng và bốn chỉ số được cải thiện, cụ thể như chỉ số Tiếp cận đất đai tăng 0,35 điểm, đạt 6,37 điểm trong năm 2017 (trong năm 2016, chỉ số này chỉ tăng 0,08 và đạt 6,02 điểm). Chỉ số Cạnh tranh bình đẳng tăng 0,49 điểm, đạt 4,99 điểm trong năm 2017 (trong năm 2016, chỉ số này chỉ tăng 0,09 và đạt 4,50 điểm). Chỉ số Tính năng động và tiên phong của lãnh đạo tỉnh tăng 1,04 điểm, đạt 6,44 điểm trong năm 2017 (trong năm 2016, chỉ số này chỉ tăng 0,93 và đạt 5,40 điểm). Chỉ số Đào tạo lao động tăng 0,46 điểm, đạt 5,69 điểm trong năm 2017 (trong năm 2016, chỉ số này chỉ tăng 0,09 và đạt 5,23 điểm).
Bốn chỉ số cải thiện gồm: Chỉ số Chi phí gia nhập thị trường tăng 0,09 điểm, đạt 8,67 điểm trong năm 2017 (trong năm 2016, chỉ số này giảm 0,1 và chỉ đạt 8,58 điểm). Chỉ số Tính minh bạch tăng 0,72 điểm, đạt 6,92 điểm trong năm 2017 (trong năm 2016, chỉ số này giảm 0,3 và chỉ đạt 6,20 điểm). Chỉ số Dịch vụ Hỗ trợ doanh nghiệp tăng 0,5 điểm, đạt 5,99 điểm trong năm 2017 (trong năm 2016, chỉ số này giảm 0,18 và chỉ đạt 5,49 điểm). Chỉ số Thiết chế pháp lý tăng 0,52 điểm, đạt 6,15 điểm trong năm 2017 (trong năm 2016, chỉ số này giảm 0,55 và chỉ đạt 5,63 điểm).
Vậy nhưng có hai chỉ số giảm điểm so với năm 2016, là chỉ số Chi phí thời gian để thực hiện các quy định của Nhà nước tiếp tục giảm 0,09 điểm, chỉ đạt 6,88 điểm trong năm 2017 (trong năm 2016, chỉ số này chỉ giảm 0,03 điểm và đạt 6,97 điểm). Chỉ số Chi phí không chính thức giảm 0,2 điểm, chỉ đạt 5,20 điểm trong năm 2017 (trong năm 2016, chỉ số này tăng 0,74 điểm và đạt 5,40 điểm).
Với các con số đánh giá trên so sánh với các tỉnh trong khu vực ĐBSCL, nhất là các tỉnh lân cận như Đồng Tháp, Long An, Bến Tre, Vĩnh Long, Cần Thơ đều có bước tiến vững chắc chiếm từ vị trí thứ ba đến 10 trên bảng xếp hạng. Kiên Giang giáp ranh cũng đạt thứ hạng 20. Trong khi đó, An Giang với hàng loạt lợi thế riêng biệt mà nhiều tỉnh khác không có như cảng, cửa khẩu quốc tế, quốc gia, tỉnh được định trọng điểm kinh tế vùng... nhưng An Giang vẫn đừng giữa bảng xếp hạng là điều đáng quan tâm. Thứ hai, nếu trong phạm vi hẹp, ba tỉnh thành tiếp giáp An Giang là Đồng Tháp, Cần Thơ, Kiên Giang thì An Giang đã tụt lại khá xa ở nhiều chỉ số. Điều đó cho thấy, việc tăng hạng (tăng sáu hạng) nhưng lại xếp nhóm trung bình trong khi năm 2016 và những năm trước, chỉ số PCI An Giang lại trong nhóm khá. Điều đó đáng lo hơn đáng mừng vì xét về trị tuyệt đối thì thực sự An Giang có bước lùi chứ không phải tiến thực thụ.
Các tỉnh Tây Nam Bộ ký giao ước thi đua 2017.
Phân tích các chỉ tiêu
Để làm rõ hơn nhận định trên, chúng ta phân tích một số chỉ số đánh giá trong khảo sát. Theo đó, chi phí gia nhập thị trường, An Giang được cải thiện, đạt 8,67 điểm và tăng 0,09 điểm trong năm 2017, xếp thứ 3 cả nước (trong năm 2016, chỉ số này giảm 0,1 và chỉ đạt 8,58 điểm). Thời gian đăng ký doanh nghiệp chỉ còn ba ngày, giảm bốn ngày và thời gian thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp chỉ còn hai ngày, giảm một ngày so với năm 2016. Bên cạnh đó, các chỉ tiêu về đăng ký doanh nghiệp cũng tăng rất cao, cụ thể: Thủ tục được niêm yết công khai tăng 32,91% (đạt 90,91%); cán bộ hướng dẫn rõ ràng, đầy đủ tăng 25% (đạt 100%); cán bộ am hiểu chuyên môn tăng 40,63% (đạt 90,63%) và chỉ tiêu cán bộ nhiệt tình, thân thiện tăng đến 48,5% (đạt 87,5% trong năm 2017). Bổ sung cho chỉ số Chi phí gia nhập thị trường là tỷ lệ doanh nghiệp làm thủ tục đăng ký doanh nghiệp qua phương thức mới (trực tuyến, TTHCC, bưu điện) đạt 15,63% trong năm 2017.
Tiếp cận đất đai tiếp tục tăng, đạt 6,37 điểm, tăng 0,35 điểm trong năm 2017 và xếp 30 cả nước (trong năm 2016, chỉ số này chỉ tăng 0,08 và đạt 6,02 điểm). Thế nhưng, oái oăm thay, giá trị trung vị về thời gian chờ đợi để được cấp GCN QSDĐ là 30 ngày, tăng trở lại trong năm 2017 (năm 2016: bảy ngày và năm 2015: 30 ngày). Riêng các chỉ tiêu bổ sung cho chỉ số Tiếp cận đất đai trong năm 2017 là việc cung cấp thông tin về đất đai không thuận lợi, nhanh chóng 44,44%; Giải phóng mặt bằng chậm 20% và khó khăn về thiếu quỹ đất sạch là 28,89%.
Tính minh bạch và tiếp cận thông tin được cải thiện đáng kể, đạt 6,92 điểm và tăng 0,72 điểm trong năm 2017, xếp thứ hai cả nước (trong năm 2016, chỉ số này giảm 0,3 và chỉ đạt 6,20 điểm). Các doanh nghiệp trên địa bàn An Giang được khảo sát cho biết họ dễ tiếp cận các tài liệu hơn trong năm 2017, đạt 2,35 điểm so với 2,39 điểm năm 2016. Tỷ lệ doanh nghiệp khảo sát cho rằng cần có “mối quan hệ” để có được các tài liệu của tỉnh đã giảm 10,26% (đạt 58,06%).
Trong khi đó, chi phí thời gian thực hiện các quy định của nhà nước tiếp tục giảm 0,09 điểm, chỉ đạt 6,88 điểm trong năm 2017 và xếp thứ 22 cả nước. Đặc biệt, số giờ trung vị làm việc với thanh tra, kiểm tra thuế là tám giờ, tăng đến 2,5 giờ so với năm 2016. Số cuộc thanh tra, kiểm tra tạo cơ hội cho cán bộ nhũng nhiễu DN là 20%; nội dung thanh, kiểm tra bị trùng lặp 18,92%; tỷ lệ DN bị thanh, kiểm tra từ năm cuộc trở lên trong năm 9,21%.
Chi phí không chính thức (CPKCT) giảm 0,2 điểm, chỉ đạt 5,20 điểm trong năm 2017 và xếp 35 cả nước (trong năm 2016, chỉ số này tăng 0,74 điểm và đạt 5,40 điểm). Có 51,69% doanh nghiệp được khảo sát cho rằng các DN cùng ngành thường phải trả thêm các khoản chi phí không chính thức; 6,67% cho rằng phải chi hơn 10% doanh thu cho các loại CPKCT (giảm 3,75%); 63,41% cho rằng tình trạng nhũng nhiễu khi giải quyết TTHC cho DN là phổ biến (tăng 8,31%); 56,92% luôn luôn cho rằng công việc đạt được kết quả mong đợi sau khi đã trả chi phí không chính thức (tăng 6,92%). Doanh nghiệp lo ngại tình trạng “chạy án” là phổ biến 28,57%; chi trả CPKCT là điều bắt buộc để đảm bảo trúng thầu 55,56%; tỷ lệ DN có chi trả CPKCT trong thực hiện TTHC đất đai 47,62% và tỷ lệ DN có chi trả CPKCT cho cán bộ thanh, kiểm tra là 48,78%.
Bảng xếp hạng PCI của An Giang 10 năm trở lại đây.
Trong chỉ số Cạnh tranh bình đẳng tiếp tục tăng, đạt 4,99 điểm, tăng 0,49 điểm trong năm 2017 và xếp 36 cả nước. Có đến 45,95% doanh nghiệp được khảo sát cho rằng tỉnh ưu ái cho các DNNN (tăng 5,04%); 49,25% cho rằng ưu đãi DN lớn (nhà nước và tư nhân) là trở ngại cho bản thân DN...
Tính năng động và tiên phong của lãnh đạo tỉnh tiếp tục tăng, đạt 6,44 điểm, tăng 1,04 điểm trong năm 2017 và xếp thứ tám cả nước. Có 86,11% doanh nghiệp được khảo sát cho rằng UBND tỉnh vận dụng pháp luật linh hoạt nhằm tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho kinh tế tư nhân (tăng 10,32%); có 60,76% doanh nghiệp cho rằng thái độ của chính quyền tỉnh với khu vực KTTN là tích cực (tăng 14,37%).
Các chỉ tiêu bổ sung chỉ số Tính năng động và tiên phong của lãnh đạo tỉnh được doanh nghiệp đánh giá khá tích cực. Cụ thể: có 65,28% doanh nghiệp cho rằng vướng mắc, khó khăn của họ được tháo gỡ kịp thời qua Đối thoại DN; 93,02% cho rằng DN nhận được phản hồi của CQNN tỉnh sau khi phản ánh khó khăn, vướng mắc và có 79,49% doanh nghiệp hài lòng với phản hồi/cách giải quyết của CQNN tỉnh.
Riêng Dịch vụ Hỗ trợ doanh nghiệp tuy được cải thiện, đạt 5,99 điểm và tăng 0,5 điểm trong năm 2017 nhưng bước tăng này rất chậm so cả nước khi xếp 53 cả nước. Số liệu thống kê của Tổng cục Thống kê thì tỷ lệ DN cung cấp dịch vụ (CCDV) trên tổng số DN là 1,4% và tỷ lệ DN CCDV tư nhân và FDI trên tổng số DN CCDV đạt 88,1% (tăng 1,26%). Số liệu báo cáo cho thấy, các dịch vụ tại tỉnh An Giang được doanh nghiệp khá tin tưởng, thể hiện qua các lĩnh vực khảo sát.
Về Đào tạo lao động tiếp tục tăng, đạt 5,69 điểm, tăng 0,46 điểm trong năm 2017, nhưng cũng chỉ xếp 51 cả nước. Thiết chế pháp lý này được cải thiện, đạt 6,15 điểm và tăng 0,52 điểm trong năm 2017, xếp thứ 20 cả nước.
Hệ thống PCI năm 2017 bổ sung bốn chỉ tiêu khảo sát về tình hình an ninh trật tự, có khả năng ảnh hưởng đến môi trường kinh doanh của tỉnh. Cụ thể, có 61,96% doanh nghiệp được khảo sát cho rằng tình hình an ninh trật tự tại tỉnh là tốt; có 68,18% cho rằng cơ quan công an hỗ trợ DN giải quyết hiệu quả vụ mất trộm tài sản. Vậy nhưng, tỷ lệ DN bị mất trộm tài sản năm qua là 23,66% và có 4,6% cho rằng họ phải trả tiền “bảo kê” cho băng nhóm côn đồ và xã hội đen để yên ổn làm ăn.
Cần nhiều bước chuyển tiếp theo
Quả thực, như tất cả các phân tích ở trên, để PCI An Giang được có thứ hạng cao và vững chắc bằng các chỉ số thành phần thuộc tóp đầu khu vực ĐBSCL và cả nước và xứng tầm với vị thế là tỉnh có nhiều tiềm năng kinh tế hàng đầu khu vực, tỉnh An Giang cần phải có những bước chuyển mình tích cực hơn nữa. Kế hoạch số 192 về triển khai thực hiện năm 2017 Chương trình hành động nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh tỉnh An Giang, giai đoạn 2016 - 2020, nhằm phát huy những kết quả tích cực, khắc phục những hạn chế, yếu kém trong thời gian vừa qua; xác định trách nhiệm của các ngành, các cấp trong việc cải thiện chỉ số PCI của tỉnh thế nhưng thực tế cho thấy bước khắc phục chuyển biến quá chậm chạp, cần sự bức phá mạnh mẽ hơn. Những biện pháp triển khai nâng cao chỉ số PCI ở An Giang thời gian qua dẫu có sự quyết tâm nhưng chưa thực sự quyết liệt, trong đó đáng chú ý các chỉ tiêu chủ quan do chính bộ máy hành chính công còn quá trì trệ khiến doanh nghiệp chưa thực sự cảm thấy hài lòng.
Từ mức điểm khá năm 2016, An Giang đã tăng sáu bậc nhưng lại xuống nhóm trung bình vì việc tăng hạng không vì điểm tăng mà vì một số tỉnh có điểm số tụt nhiều hơn. Trong đó, về dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp xếp 53 và chỉ số đào tạo lao động xếp 53 cả nước là đáng lo ngại. Đây là điều mà An Giang không phải không có khả năng khắc phục khi hệ thống trường dạy nghề lao động, đều khắp từ tỉnh đến huyện thị thành. Các dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp cũng trong tầm tay của tỉnh, sở ngành nhưng chưa chuyển biến đáng kể, không muốn nói quá chậm đã khiến chỉ số này chỉ hơn 10 địa phương là điều đáng báo động. Khi dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp quá kém, việc thu hút đầu tư sẽ gặp trở ngại đáng kể, doanh nghiệp sẽ lo lắng nhiều khi quyết định đầu tư vào địa phương đó và từ đó việc cạnh tranh thu hút đầu tư sẽ tụt lại phía sau. Song song đó, An Giang cũng phấn đấu nhiều hơn ở các chỉ số đang đứng mức bình quân khác. Nếu nhìn trên biểu đồ 10 năm qua về chỉ số PCI của An Giang cho thấy, sau giai đoạn xuống dốc đã có bước tăng trở lại về điểm số trong năm 2017 qua nhưng với những giai đoạn trước đó cùng với nỗ lực tự thân thì sự tụt hậu là phải thực sự thừa nhận.
Nhìn nhận được điều đó, tỉnh An Giang trong giai đoạn đoạn tiếp theo, tỉnh cần phải có một hội thảo quy mô hơn để chỉ ra cụ thể những cái gì yếu phải bắt tay sửa sai ngay, cái nào đã tốt phải tốt hơn, cái nào cần sự hỗ trợ từ bộ ngành phải ý kiến cùng tháo gỡ. Điểm nữa, An Giang cần phải tiến hành trong việc nâng cao trên bảng xếp hạng PCI là so sánh độc lập với từng tỉnh thành trong khu vực trong từng chỉ số riêng lẻ để học hỏi kinh nghiệp quý của các tỉnh bạn nhằm cải thiện chỉ số địa phương. Song song đó, cái cốt lõi là cải cách hành chính công cũng phải quyết liệt hơn vì tất thảy những chỉ số canh tranh trên đều có nền tảng từ nền hành chính công được cải cách mạnh mẽ, triệt để vì doanh nghiệp, vì nhân dân.
| Tháng 3-2018, Chủ tịch UBND tỉnh An Giang Vương Bình Thạnh đã ký ban hành kế hoạch 105/KH-VPUBND Triển khai hoạt động Trung tâm Hành chính công tỉnh An Giang. Trung tâm Hành chính công tỉnh An Giang với 33 cán bộ công chức từ các sở, ngành thực hiện việc tiếp nhận và trả kết quả tất cả thủ tục hành chính thống nhất trong toàn tỉnh. Phối hợp giải quyết thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông theo quy định tại Quyết định số 09/2015/QĐ-TTg ngày 25-3-2015 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế thực hiện cơ chế một cửa, cơ chế một cửa liên thông tại cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương. |