Văn hóa và đạo đức

"Không phải xấu hổ với ai"

Nghe tiếng cánh cổng sắt lạch cạch, thằng cháu nội tôi đã ló cổ ra nhìn rồi gọi với vào nhà: "Bà ơi, ông về!", sau nó vừa lon xon chạy ra đón tôi vừa líu lo: "Bà bảo ông chơi cờ bên ông Thẩm, đi học về, cháu xin phép bà sang với ông, nhưng bà không cho!". Bà nội cháu nói vọng ra: "Ðến nhà ông Thẩm phải qua mấy ngã ba ngã tư, xe cộ chật chội, làm sao đi được con, lại còn ra mách ông?". Tôi xoa đầu cháu rồi vào nhà. Bà cháu đang nhặt rau chuẩn bị cơm chiều, thấy tôi vào, bà ngẩng lên hỏi: "Ông bà Thẩm có khỏe không ông", tôi trả lời: "Hai bác ấy khỏe bà ạ, bác trai đang rủ tôi khi nào nắng ráo thu xếp được, hai anh em trở lại Tây Bắc thăm mấy con đường ngày xưa". Bà cháu cười và bảo: "Hai ông già vẫn còn lưu luyến những con đường nhỉ!".

Nói là lưu luyến cũng không sai, vì đó là nơi chúng tôi đã cống hiến năm tháng tuổi thanh xuân để mở các con đường nối liền những vùng đất xa xôi của Tổ quốc. Nhớ ngày tôi đeo túi quần áo với mấy thứ lặt vặt mẹ sắm sửa cho, và ra bến xe lên Tây Bắc. Ðến xí nghiệp cầu đường, tôi được phân công về một đội, rồi về một tổ công nhân. Hôm đó đón tôi trước dãy lều lán dựng tạm cạnh con đường mới mở là một người nhìn quen quen. Anh cũng chăm chú nhìn tôi, sau tôi nhớ ra đó là anh Thẩm, con bà Tý ở cuối xóm. Hồi ở nhà, buổi sáng đi học, buổi chiều anh Thẩm vẫn gánh đôi thùng qua nhà tôi để đi gánh nước thuê ngoài phố. Mấy năm trước, nghe nói anh đi làm công nhân. Nhận ra nhau, hai anh em mừng mừng tủi tủi. Từ đó, chúng tôi sống những ngày không có nhà, chỉ có lều lán, đường mở đến đâu, lều lán chuyển đến đó. Buổi tối, hôm nào không học bổ túc, hai anh em nằm gác chân lên nhau hàn huyên. Lúc đó tôi mới biết anh Thẩm là con nuôi bà Tý. Anh kể, quê anh ở Thái Bình, hồi trước năm 1954, quê anh là vùng địch hậu, cuộc sống rất khó khăn. Hơn mười tuổi, anh theo người làng ra Hải Phòng, loanh quanh thế nào bị lạc, hai ba ngày nhịn ăn. Ðói quá, anh đứng trước chỗ bà Tý ngồi bán bánh mì, tiền chẳng có. Thấy anh đứng quá lâu, bà Tý hỏi. Biết tình cảnh, bà Tý đưa anh về nhà, nhận làm con nuôi. Nhà bà Tý nghèo, anh lang thang làm thuê làm mướn. Sau hòa bình, bà Tý đã đưa anh Thẩm về tìm quê quán. Tìm được cha mẹ, anh lại ra Hải Phòng. Mấy năm sau, anh xung phong lên Tây Bắc làm công nhân. Ở công trường, vào ngày chủ nhật, không có nơi đi chơi, anh Thẩm rủ tôi vào rừng lấy măng, lấy mộc nhĩ về phơi. Nghỉ Tết, hai anh em mang về quê làm quà. Anh Thẩm gói hai gói to, anh bảo: "Phần bố mẹ Hải Phòng, phần bố mẹ Thái Bình". Ðến kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, chúng tôi vào Trường Sơn, lại lăn lộn với những con đường. Sau đó anh em mỗi người một ngả. Anh Thẩm bị thương, ra bắc học tập rồi vào đại học. Ðất nước thống nhất, tôi về quê đi làm, và xây dựng gia đình. Anh Thẩm cũng lấy vợ ở quê, thi thoảng hai anh em tôi vẫn gặp nhau. Anh Thẩm về hưu trước, tôi về sau. Con cái đã trưởng thành, cháu nội ngoại đủ cả, anh em tôi khá rảnh rỗi, nên hằng ngày rủ nhau tập thể thao, đọc sách báo, hoặc chơi vài ván cờ. Anh Thẩm bảo tôi: "Chú nghĩ mà xem, anh em mình có thể chưa bằng ai nhưng lại có cái để tự hào. Tuổi xuân anh em mình gắn liền với Tổ quốc; nếu nhìn lại quá khứ, mình không phải xấu hổ với ai. Thế là được rồi chú ạ". Và tôi đồng tình với anh.

Có thể bạn quan tâm