Từ những bước đi đầu tiên còn nhiều khó khăn với số lượng trường học và học sinh rất ít, đến nay tiếng Nhật đã trở thành một môn học chính thức trong chương trình giáo dục phổ thông Việt Nam và đang được dạy tại 19 trường THCS và 12 trường THPT tại năm thành phố với hơn 25 nghìn lượt học sinh theo học kể từ năm 2003 đến nay. Theo Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Ðào tạo (GD và ÐT) Nguyễn Vinh Hiển, kết quả thí điểm triển khai tiếng Nhật tại các trường phổ thông ở nước ta trong những năm qua cho thấy, việc đưa tiếng Nhật vào chương trình giáo dục phổ thông là khả thi và được các địa phương, trường học hưởng ứng. Học sinh học tập sôi nổi, hứng thú học tập, yêu thích ngôn ngữ, văn hóa Nhật Bản, tinh thần thái độ học tập nghiêm túc, kết quả học tập được cải thiện qua từng năm học. Phụ huynh học sinh từ chỗ còn băn khoăn, lo lắng về khả năng liên thông giữa THCS và THPT khi đăng ký cho con em mình vào học tiếng Nhật ở lớp sáu, đến nay đã tin tưởng, yên tâm, tự nguyện cho con em mình theo học tiếng Nhật. Nhiều phụ huynh đã có đóng góp tích cực cho hoạt động dạy học tiếng Nhật trong nhà trường. Chương trình, sách giáo khoa được biên soạn công phu, bảo đảm tính khoa học, tính sư phạm, phù hợp với đối tượng học sinh. Công tác thẩm định, phê duyệt, in và phát hành sách giáo khoa tiếng Nhật được tiến hành nghiêm túc, khẩn trương, bảo đảm cung cấp đủ cho giáo viên, học sinh sử dụng ngay từ đầu năm học. Bên cạnh đó, đội ngũ giáo viên tiếng Nhật từng bước được bổ sung đầy đủ về số lượng và được bồi dưỡng nâng cao về trình độ tiếng Nhật và năng lực sư phạm theo hướng chuẩn hóa trình độ đào tạo.
Giáo viên Trường THCS Lê Lợi, quận Ngũ Hành Sơn (Ðà Nẵng) Nguyễn Thị Mai Phương cho biết: Càng ngày học sinh càng say mê và học tiếng Nhật một cách chủ động và tích cực hơn. Các em có tinh thần tự học, chịu khó nghiên cứu các hình ảnh tư liệu về nước Nhật để tìm hiểu văn hóa, lịch sử nước Nhật.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được thì việc dạy tiếng Nhật vẫn còn một số khó khăn về trang thiết bị phục vụ dạy học cũng như sách tham khảo tiếng Nhật chưa đáp ứng đủ nhu cầu của học sinh và giáo viên. Số giáo viên tiếng Nhật trong biên chế còn ít so với số lớp học hiện có. Một số giáo viên phải kiêm nhiệm dạy cả ba khối lớp. Số giáo viên Nhật Bản cử về địa phương để hỗ trợ giáo viên Việt Nam dạy học còn ít. Ðiều này đã hạn chế việc trao đổi chuyên môn, dự giờ, rút kinh nghiệm giữa các giáo viên Việt Nam và giáo viên Nhật Bản. Hơn nữa, việc dạy học đang còn khép kín trong không gian lớp học. Chương trình giao lưu với học sinh Việt - Nhật chưa đáp ứng nhu cầu của học sinh. Các hoạt động giao lưu trau dồi kiến thức trong và ngoài nước chưa được tổ chức rộng rãi cho tất cả học sinh học tiếng Nhật tham gia. Hầu hết các chương trình giao lưu ở nước ngoài chỉ dành cho học sinh có kết quả học tập tốt, do vậy hiệu quả của việc học và thực hành ngôn ngữ chưa thật sự thuyết phục.
Trong thời gian tới, Thứ trưởng Bộ GD và ÐT Nguyễn Vinh Hiển cho biết, cần khẩn trương hoàn thiện chương trình, rà soát, điều chỉnh nội dung sách giáo khoa tiếng Nhật theo hướng đáp ứng tốt hơn chuẩn đầu ra của quá trình dạy học và cải tiến về hình thức in, trình bày nội dung cho hấp dẫn hơn. Từng bước xây dựng đội ngũ giáo viên tiếng Nhật, tổ chức đào tạo giáo viên tiếng Nhật trong các trường đại học ngoại ngữ nhằm bảo đảm số lượng và chất lượng theo chuẩn đào tạo, chuẩn nghề nghiệp giáo viên. Ngoài ra, ưu tiên xây dựng và phát triển chương trình sáu bậc năng lực với tài liệu giảng dạy và học tập tiếng Nhật khác nhau cho các đối tượng khác nhau như sinh viên, người lao động... để nâng cao chất lượng, hiệu quả dạy và học tiếng Nhật; bảo đảm chứng chỉ của Việt Nam cũng được công nhận tại Nhật Bản, tạo điều kiện cho học sinh, sinh viên và lao động Việt Nam giao lưu và di chuyển quốc tế với Nhật Bản được thuận tiện và dễ dàng.
Bắt đầu từ năm 2013, Ðề án dạy và học tiếng Nhật đã trở thành một hợp phần của Ðề án dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam giai đoạn 2008 - 2020. Tiếng Nhật là một trong những công cụ cần thiết để Việt Nam và Nhật Bản tăng cường quan hệ hợp tác, giao lưu trong nhiều lĩnh vực, trong đó có việc chuẩn bị nguồn nhân lực Việt Nam có hiểu biết về ngôn ngữ và văn hóa Nhật Bản để có thể tham gia có hiệu quả vào quá trình học tập, làm việc với các tài liệu bằng tiếng Nhật và làm việc tại Nhật Bản.
(Bộ GD và ÐT)