Lĩnh đến ngôi chùa ấy vào một ngày mùa thu, nắng hoe vàng. Ngôi chùa trầm mặc như một đạo sĩ ẩn dật giữa núi non trùng điệp và dải rừng thông xanh ngút ngàn. Những tán đa và ngọc lan lớp lớp lặng lẽ tỏa bóng xuống mái chùa cong cong thâm u, lờ mờ rêu phủ. Lĩnh giẫm bàn chân trần lên những bậc đá xanh rêu, cảm nhận cái lạnh của ngàn năm sâu thẳm thấm thía vào trong cơ thể. Bước qua những bậc đá nối dài bất tận, Lĩnh cứ ngỡ như mình đang để lại dần phía sau những nỗi buồn vô hạn của kiếp người. Thỉnh thoảng Lĩnh lại nghe đâu đó trong thinh không có tiếng chuông chùa vang lên rồi cứ thế tan đi, loãng ra, đến khi chỉ còn vẳng như những tiếng thở dài u u của núi.
Chùa không một bóng người. Cái nắng cuối ngày cũng nhợt nhạt dần. Lĩnh đẩy cánh cửa khép lỏng. Một vị sư già đang Thiền toạ. Nhìn gương mặt thanh thản lặng ngồi bất động như một bóng cây cổ thụ, Lĩnh cảm nhận ở đó một sự an tĩnh đến tuyệt đối. Lĩnh nép vào cánh cửa, không dám vào, sợ làm kinh động đến sự an tĩnh ấy. Chợt tiếng của vị sư già cất lên làm Lĩnh giật mình:
- Chiều lạnh rồi. Nữ thí chủ đến đây có việc gì vậy?
Bỗng nhiên Lĩnh thấy luống cuống. Lĩnh đã đi gần hết một ngày đường thật dài. Trên chặng đường dằng dặc ấy Lĩnh chỉ nghĩ có một điều là Lĩnh đang buồn, Lĩnh đang rất buồn, thậm chí Lĩnh còn muốn chết nữa. Nhưng không hiểu sao Lĩnh lại dừng chân ở ngôi chùa này.
Thật ra Lĩnh đã từng đến đây một lần, đã lâu lắm, chừng như ba năm về trước. Ngày đó Lĩnh trẻ trung biết bao nhiêu. Một tâm hồn lãng mạn và sôi nổi tràn ngập nhiều ước mơ, trong veo như nước suối. Ngày đó Lĩnh cũng chưa biết đau khổ là gì. Dĩ nhiên ba năm chưa phải là một khoảng thời gian dài! Nó là gì so với một đời người? Nhưng trong ba năm ấy, Lĩnh gần như đi hết một đời người, nếm trải gần hết một đời người cũng chỉ trong có ba năm ấy. Vì đau khổ ư? Hay còn vì những gì nữa mà Lĩnh chưa bao giờ cắt nghĩa nổi. Lĩnh nói như vô thức:
- Dạ thưa... Xin thầy cho con ở lại đây, chỉ một đêm thôi, mai con sẽ đi...
Nước mắt Lĩnh đã chảy tràn xuống má. Quả tình Lĩnh không còn biết đi đâu nữa. Lưới chiều đã giăng phủ mỗi lúc một dày, ngôi chùa cũng vắng lạnh hơn. Vị hòa thượng kia như vẫn đang chìm đắm trong cõi Thiền, mi mắt vẫn khép, nét mặt tĩnh lặng tựa như không hề nghe thấy cái điều Lĩnh vừa nói. Lĩnh bỗng thấy lo sợ. Có lẽ Lĩnh đã quá đường đột chăng. Nhưng vừa định dời bước thì vị hòa thượng đã lên tiếng, giọng vang và trầm như tiếng mưa trong núi:
- Cửa Phật vốn từ bi. Con cứ ở lại đây. Giờ vào nhà sau cho bình tâm lại đã.
Thế là lão hòa thượng đi trước, Lĩnh lặng lẽ theo sau. Qua chính điện, những ngọn bạch lạp được đốt lên khiến cho khung cảnh phía trong của ngôi chùa cũng được soi rõ dần. Những cánh hạc, chao ôi những cánh hạc đang bừng lên khắp chung quanh làm lòng Lĩnh bất chợt xôn xao. Người ta vẫn gọi ngôi chùa này là chùa Hạc chắc cũng bởi những cánh hạc này. Không biết nghệ nhân nào đã khéo vẽ lên những đường nét vừa thanh tao, vừa sống động khiến cho muôn vàn cánh hạc dẫu là ở trên tường hay trên những bức bình phong nhưng cứ như đang tung cánh bay bổng khắp không gian. Hồi ba năm về trước, tâm hồn Lĩnh vốn đầy ắp những thơ và nhạc đã choáng ngợp trước những cánh hạc phiêu bồng khi lần đầu tiên đến đây. Lạ lùng thay, sau ngần ấy thời gian, ba năm qua và có thể là hơn ngàn năm trước, những cánh hạc vẫn sống động như thế, vẫn ảo huyền như thế và điều suy tưởng ấy khiến cho Lĩnh xúc động. Nhưng khi những xôn xao ấy đi qua, lòng Lĩnh bắt đầu thấm dần cái se sắt của nỗi buồn. Ngày đó có một người cũng bị những cánh hạc ấy hút hồn như Lĩnh. Anh ta đã chọn một góc thật khiêm nhường ở sân chùa để họa những cánh hạc. Lĩnh thấy cuốn sổ dùng để ký họa được mở rộng và những cánh hạc thanh tao dường như đang chấp chới bay lên từ những nét bút phóng túng ấy. Người đàn ông có phong thái lịch lãm, gương mặt cương nghị, mái tóc gọn ghẽ và tuyệt nhiên không giống chút nào với cái phong cách xộc xệch một cách cố ý của những hoạ sĩ chuyên nghiệp lẫn nghiệp dư mà Lĩnh đã từng trông thấy. Khi những nét vẽ cuối cùng đã hoàn tất, anh ta gỡ bức tranh ra và tặng Lĩnh. Lĩnh ngỡ ngàng và sung sướng đến gần như nghẹt thở. Hình như giữa tấp nập bao người đến vãn cảnh chùa Hạc, chỉ có một người con gái là Lĩnh đứng ngắm những cánh hạc trên tường lâu đến thế và say mê đến thế. Anh ta không nói thêm một câu gì, chỉ mỉm cười rồi đi nhưng tâm hồn Lĩnh thì như đã bay bổng ở chốn nào. Bức tranh người ấy tặng Lĩnh có những cánh hạc mong manh thấp thoáng giữa một rừng thông ngút ngàn ẩn hiện những dáng núi mờ sương. Sự chấm phá đầy ngẫu hứng của những nét bút khiến Lĩnh liên tưởng đến những bức thủy mặc.
Họ lại tình cờ gặp nhau thêm một lần nữa trong bữa tiệc sinh nhật của một người bạn. Cũng tình cờ buổi tối ấy, Lĩnh lại mặc cái váy trắng có in loáng thoáng những cánh hạc bay. Chiếc váy rập rờn theo những bước chân của Lĩnh khiến cho những cánh hạc ấy cũng như đang sắp sửa bay vút lên. Suốt bữa tiệc có một đôi mắt cứ đăm đăm nhìn Lĩnh. Cô nhận ra người đàn ông ấy ở cuối bàn tiệc, vẫn khiêm nhường như thế, nhưng lòng Lĩnh thì cứ như đang bị thiêu cháy vậy.
Mọi thứ đến nhanh như một cơn lốc. Lĩnh đã yêu và ngập chìm trong một tình yêu nhiều đam mê. Người đàn ông ấy là một doanh nhân giàu có, nhưng với Lĩnh điều đó chẳng có nghĩa lý gì. Lĩnh chỉ yêu con người nghệ sĩ của anh ta. Phòng trọ nhỏ bé của Lĩnh trở thành xưởng vẽ và Lĩnh có thể đứng làm mẫu cho anh ta vẽ suốt ngày. Anh ta vẽ Lĩnh trong chiếc váy trắng muốt phiêu bồng giữa một đàn hạc đang bay. Lĩnh thích nhất bức tranh ấy. Nó không hề có dấu vết của cuộc đời phàm tục, nó siêu thoát và thanh cao diệu vợi. Tâm hồn Lĩnh dường như mê đắm trong những gam màu trắng đầy ảo huyền ấy.
Lĩnh sẽ nghĩ tình yêu của Lĩnh là trong suốt và thánh thiện nếu Lĩnh không có thai và không sinh con. Cuộc đời là vậy, có những điều đối với người này là hạnh phúc nhưng với người kia chưa hẳn đã như thế. Có lẽ Lĩnh đã ngụp lặn trong tình yêu quá lâu, đã gần như mê muội. Vào một ngày có người đàn bà phong thái cực kỳ sang trọng đến gõ cửa phòng Lĩnh và nói với Lĩnh thế này: “Xin lỗi cô. Tôi là vợ anh ấy. Từ lâu tôi đã biết cuộc tình của hai người. Nhưng thực ra anh ấy vẫn luôn yêu tôi và yêu gia đình. Anh ấy sẽ không bao giờ để mất những gì đang có. Chỉ vì tôi và anh ấy không thể có con... Hãy để tôi nuôi đứa bé, tôi sẽ yêu thương nó như chính con của tôi vì dù sao nó cũng là một phần cốt nhục của anh ấy...”. Người đàn bà đó còn hứa sẽ bảo đảm cho đứa trẻ một cuộc sống vương giả, sẽ lo lắng chu tất cho Lĩnh và trước khi về không quên để lại cho cô một số tiền lớn như một hứa hẹn... Lĩnh bàng hoàng đến mức không nói nổi câu gì. Cô quáng quàng gọi điện cho người đàn ông ấy, nhưng sau một hồi im lặng chừng như rất lâu, rất nặng nề, Lĩnh chỉ nghe vỏn vẹn có mỗi một câu từ phía đường dây bên kia: “Anh xin em hãy làm theo nguyện vọng của cô ấy...”. Lĩnh gần như tuyệt vọng. Như một một con hạc gầy bị gãy cánh rơi giữa thinh không vô vọng, cô lả đi giữa hàng đống những lọ màu lăn lóc, những bức tranh dang dở ngổn ngang và tiếng trẻ gào khóc. Không lẽ tình yêu lãng mạn của Lĩnh lại kết thúc như vậy sao? Ba ngày nữa, người đàn bà ấy sẽ đến nghe câu trả lời của Lĩnh như đã hẹn, Lĩnh sẽ phải quyết định nuôi đứa trẻ trong dị nghị và đàm tiếu hay sẽ cho nó đi để sống một cuộc đời thanh thản hơn. Lĩnh cần tiền, Lĩnh cũng cần tiền lắm chứ, làm sao nuôi được con khi Lĩnh chưa phải lăn lộn kiếm tiền bao giờ. Quê Lĩnh nghèo, nhà cũng nghèo, cô đã từng ao ước được ra thành phố, được sống một cuộc đời xênh xang chứ không phải lùi lũi giữa những thửa ruộng bùn ngập đến cổ... Nhưng Lĩnh lại cũng không muốn mất đi đứa con mà Lĩnh nghĩ là kết quả của một tình yêu say đắm cho dù người ấy đã bỏ rơi Lĩnh. Cuộc đời quả là nghiệt ngã hơn Lĩnh nghĩ, con người cũng tầm thường hơn Lĩnh nghĩ. Có lẽ Lĩnh sẽ thấy mọi thứ đơn giản hơn, trần trụi hơn và Lĩnh cũng không bao giờ phải đau khổ nhiều như thế nếu như Lĩnh không có một tâm hồn...
Lĩnh đã khóc cạn nước mắt suốt một ngày. Còn hai ngày nữa thôi. Lĩnh lên một chuyến xe, cứ đi mãi đi mãi mà không biết sẽ dừng lại ở đâu. Cũng là vô thức, Lĩnh lại dừng chân ở chùa Hạc nơi cách đây chừng ba năm Lĩnh đã quen người ấy. Sự trở lại giống như một cuộc tri ngộ mà lòng Lĩnh lại trĩu buồn. Có thể Lĩnh muốn tìm sự giải thoát ở những cánh hạc tự do và phiêu bồng này. Ước gì những cánh hạc ấy hãy bay đi và gửi theo về trời những nỗi muộn phiền của lòng Lĩnh...
Lĩnh ngồi một mình trong căn phòng có nhiều hạc chờ cho đêm qua nhanh. Thỉnh thoảng Lĩnh lại nghe những bước chân qua lại đều đều chậm chạp của mấy chú tiểu qua tiền sảnh. Không gian trầm lắng, tiếng kinh tụng niệm xen lẫn với tiếng mõ như dội lên từ cõi lòng âm u của Lĩnh. Trời gần sáng, những tiếng chuông chùa chầm chậm thỉnh vào thinh không những âm thanh buồn bã. Lĩnh ngồi dậy, mở cửa ra ngoài. Trời chưa sáng hẳn. Trên những hành lang bằng gỗ chạy bao quanh phía sau ngôi chùa, sương đêm đẫm ướt. Thoảng trong những cơn gió thổi vi vu có tiếng ai đó đang ngâm một bài kệ: “Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận. Đình tiền tạc dạ nhất chi mai...”. Câu thơ của một vị Thiền sư đời Trần mà Lĩnh đã biết từ hồi còn đi học không hiểu sao giờ lại khiến cho Lĩnh xúc động đến thế. Có phải bởi tinh thần của bài kệ hay bởi Lĩnh nghe nó giữa cái không gian tâm linh và thoát tục như thế này nên mới thấu cảm được cái chân lý về sự tồn tại bất diệt ở đó. Sự giản dị thanh thoát nhưng lại hàm chứa một thứ sức mạnh siêu phàm của Thiền triết tựa hồ một dòng suối mát gột rửa hết những ưu phiền trĩu nặng trong Lĩnh...
- Phật pháp vô biên. Nó là chân lý... Nó sẽ giúp con nhận ra không phải là sự hư vô mà là sự bất diệt bởi tính luân hồi của đời sống qua mọi duyên nghiệp...
Lão hòa thượng vừa ngân nga bài kệ vừa giảng giải. Lĩnh ngước mắt nhìn lên thấy bầu trời cao vời vợi và ngàn thông xanh đang vi vu hát bài ca về sự trường tồn vĩnh cữu. Những bậc đá phủ rêu lành lạnh âm ẩm đưa Lĩnh xuống chân núi. Dưới kia có hai người đang lặng lẽ bước qua những bậc đá lên chùa. Trông họ giống một đôi vợ chồng. Thái độ họ kính cẩn nhưng vẻ mặt họ lại bình lặng và thanh thản. Người đàn bà nắm chặt bàn tay chồng, đôi mắt vừa âu lo vừa hy vọng. Họ đi qua Lĩnh, cô bỗng thấy ngờ ngợ. Hình như Lĩnh đã gặp họ chừng ba năm về trước khi hai người và Lĩnh cùng đứng thắp hương trước điện thờ nghi ngút khói. Ngày đó Lĩnh cầu cho duyên tình của mình thật nhiều hạnh phúc còn họ chỉ cầu có một đứa con, và đến bây giờ có lẽ họ vẫn chỉ cầu một đứa con... Người vợ đã già hơn một chút còn người chồng tóc đã điểm sương. Họ lặng lẽ đi lên, chừng như không nhận ra Lĩnh. Sau chừng ấy năm đã trôi qua, đôi vợ chồng ấy vẫn tin rằng một ngày kia ngôi chùa có tiếng là linh thiêng này sẽ mang lời nguyện cầu của họ đến tai đức Phật. Khát vọng của nhân sinh quả là vô cùng.
Lĩnh quỳ xuống. Ở trong tâm khảm sâu thẳm của cô như có sự thay đổi. Có tiếng kêu nào đó, một lực vô hình nào đó nâng cô dậy hay làm cô thức tỉnh. Con người ta phải tha thứ bình nhiên để hy vọng và, còn hy vọng nghĩa là vẫn còn sống, phải bay lên như những cánh hạc kia, ngay cả khi người ta rơi vào hoàn cảnh khổ đau nhất. Lĩnh nhắm mắt. Thế mà cô vẫn thấy dường như trước mắt có vạn vạn cánh hạc tung lên... Và, cô thấy nhẹ nhõm tới vô cùng. Tiếng chuông thỉnh báo giờ tụng niệm của vị sư già kết thúc làm Lĩnh như tỉnh giấc.
Có lẽ Lĩnh phải quay trở về căn phòng nhỏ bé của Lĩnh và đêm nay Lĩnh sẽ gặp lại vợ của người đàn ông đã bỏ rơi mình. Và Lĩnh biết mình sẽ nói những gì... Có mùi trầm nhẹ nhàng thơm tới vô cùng và bỗng nhiên Lĩnh thấy ngàn cánh hạc trong chùa chao động. Lâu lắm, lâu lắm cô thấy an lòng...