Đọc Dòng chảy văn hóa Việt Nam nhớ N.I.Niculin

Nội dung cuốn sách gồm bốn phần:

Phần một: Về văn hóa và văn học dân gian  gồm bốn bài, đều là những đề tài lớn, trung tâm của dư luận, với những khám phá mới về ngọn nguồn văn hóa Đông Sơn "Với quan niệm về cây thế giới", "Cây đời", hiện thân của số phận con người, của đất nước trong nhiều trường ca của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam; về cơ sở của văn hóa vùng đồng bằng sông Hồng với các truyền thuyết Ông Đống và Phù Đổng. Về thần thoại Mường mà Đẻ đất đẻ nước là kết tinh của những quan niệm về "Tạo lập thế giới", "Tạo lập trời đất" của người cổ xưa.

Phần hai: Những chân dung trong bảng mầu văn học trung đại Việt Nam: Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Nguyễn Gia Thiều, Lê Quý Đôn, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Đình Chiểu được nhà nghiên cứu khảo sát với nhiều phát hiện thú vị nhờ phương pháp luận nghiên cứu văn học cổ điển. Ở đây chúng ta gặp: ngoài những tư liệu mới, những kiến giả thỏa đáng, sự cảm thụ thẩm mỹ tinh tường của người viết, còn lại là sự đóng góp về phương pháp so sánh với các hiện tượng văn học, bản chất, ý nghĩa văn hóa của hiện tượng, của ngôn ngữ văn học.

Trong phần ba viết về văn học đương đại Việt Nam, ngoài những phác thảo chân dung các nhà văn lớn: Đặng Thai Mai, Nguyễn Công Hoan, Nguyễn Minh Châu..., Niculin đã viết những bài về ý thức lịch sử và cá nhân, vấn đề văn học những năm chiến tranh nhằm mục đích đính chính lại nhầm lẫn của một số người vô tình hay hữu ý hạ thấp vai trò văn học thời chiến tranh. Trong phần này Niculin đã ghi lại một mẩu chuyện hiếm có, cảm động khi gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh lần đầu tại Phủ Chủ tịch vào tháng 11-1954 lúc mới 23 tuổi và bốn năm sau tại bộ phận lưu trữ của Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô, ông đã tìm thấy cuốn Nhật ký chìm tàu  của Bác Hồ được in li-tô trên những trang giấy thô nhám...

Phần cuối cuốn sách chiếm số lượng trang nhiều nhất đề cập đề tài rộng lớn: Văn học, văn hóa Việt Nam và giao lưu quốc tế. Niculin thường vận dụng phương pháp so sánh để khảo cứu những hiện tượng văn hóa giữa hai nước, hai khu vực Đông và Tây: Tác phẩm Pu-skin ở Việt Nam; Vua Hàm Nghi và nữ văn sĩ Nga; Rồng Việt Nam và dòng sông Vôn-ga; Những danh địa của nước Nga trong Vân đài loại ngữ; Những nhà truyền giáo Pháp nói về hề chèo... là những bài viết có phát hiện sáng tạo. Trong bài: Mối cảm tình của người Việt Nam ở thế kỷ XVIII đối với nước Nga, Niculin giới thiệu Phi-líp Bỉnh, một linh mục, một người Việt Nam đến Bồ Đào Nha năm 1796 và sống ở Li-xbon hơn 35 năm. Bỉnh còn là nhà văn viết về Vương quốc Anh, châu Ấu, Trung Quốc, Ma-cao bằng chữ quốc ngữ được Bồ Đào Nha hóa, rất có cảm tình với nước Nga và đặc biệt không ưa gì Na-pô-lê-ông vì đội quân xâm lược Pháp đã xâm chiếm Bồ từ năm 1807, bắt Giáo hoàng La Mã làm tù binh. Trái lại linh mục có thiện cảm và khâm phục truyền thống hòa bình giữa hai cường quốc Nga và Đại Minh (Trung Quốc).

Ngoài ra, ở một số bài viết, Niculin có ý thức sớm đấu tranh chống lại những lời lẽ xuyên tạc, hạ thấp vai trò của tác giả, tác phẩm Xô-viết, khẳng định các tác phẩm chân chính, những giá trị nhân văn của văn học, văn hóa Xô-viết trong hơn 70 năm tồn tại. Những hạn chế do lịch sử để lại là không tránh khỏi và không làm mờ những tính cách Nga, con người Nga, tâm hồn Nga do cuộc sống và cuộc chiến tranh vệ quốc đại thắng mang lại cho nhân dân Nga và nhân loại. Những phẩm chất và giá trị Xô-viết hiện nay đang được thế hệ trẻ Nga giữ gìn, sáng tạo trong điều kiện lịch sử mới.

GS, VS N.I.Niculin đã qua đời, nhưng tôi lúc nào cũng không quên được những việc mà ông đã cộng tác với Viện Văn học vào những năm 60 của thế kỷ trước trở lại đây, những kỷ niệm về ông đã đọng lại trong tâm trí chúng tôi. Quan hệ giữa Viện Văn học nói chung và với chúng tôi nói riêng là hết sức có hiệu quả, chân thành, hữu nghị. Mỗi lần chúng tôi sang Nga thế nào cũng được Niculin đón tiếp rất nhiệt tình, dẫn chúng tôi đi tham quan nhiều di tích lịch sử - văn hóa ở Mát-xcơ-va, Xanh Pê-téc-bua; có lần vào năm 1963, ông cũng không hề ngần ngại dẫn giáo sư Đặng Thai Mai và tôi đi nhiều nơi trên đất nước Nga mênh mông, từ bờ biển Ban-tích đến bờ Biển Đen, đến tận Su-khu-mi ở miền nam. Nhờ ông và qua ông mà chúng tôi hiểu thêm nền văn hóa Nga huy hoàng, hiểu thêm Mác-xim Goóc-ki, mà tên tuổi gắn liền với Viện Văn học thế giới mang tên nhà văn lớn. Niculin là tượng trưng cho tình hữu nghị và tinh thần hợp tác khoa học Việt - Nga không bao giờ phai nhạt.

Tháng 8-2006
GS, VS HỒ TÔN TRINH

-----------------

(*) N.I.Niculin: Dòng chảy văn hóa Việt Nam, NXB Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, 2006.

Có thể bạn quan tâm