Hiên ngang Cu-ba
Mỗi buổi sáng (hoặc khi bắt đầu chương trình tin tức), Đài Truyền hình và Đài Phát thanh của Nhà nước Cu-ba bao giờ cũng mở đầu bằng câu quen thuộc: Đây là tiếng nói Cu-ba, truyền đi từ Thủ đô La Ha-ba-na - dải đất tự do đầu tiên của châu Mỹ!
Hãng Thông tấn của Nhà nước cũng mang tên chẳng giống hãng thông tấn nào: Prensa Latina. Từ ngữ nghĩa mà suy: Hãng thông tấn của cả Mỹ La-tinh!
Cu-ba là Quốc đảo hình con cá sấu xanh, đất không rộng, dân số hơn 10 triệu người, nằm chơi vơi giữa đại dương mênh mông, thuộc vùng Ca-ri-bê, chỉ cách bang Flo-ri-đa rộng lớn của nước thù địch - chỗ gần nhất chưa đầy 100 hải lý. Đứng ở Đảo Thông (isla de pinos), bằng ống nhòm có thể nhìn thấy bờ bên kia mờ mờ như trong sương sớm. Phía đó, suốt một thời kỳ dài (chính xác là 54 năm), qua 10 đời Tổng thống (từ J.Ken-nơ-đi đến gần hết nhiệm kỳ của B.Ô-ba-ma), nước này không trừ âm mưu, thủ đoạn nào hòng loại bỏ Cách mạng Cu-ba, nhưng đều thất bại. Ở đây, chỉ nhắc ba sự kiện tiêu biểu: Năm 1961, một lực lượng lớn lính đánh thuê lên tới hàng nghìn tên từ phía Flo-ri-đa tấn công vào bãi biển Gi-rông. Tổng Tư lệnh Phi-đen Ca-xtơ-rô (Fidel Castro) ngồi trên xe tăng chỉ huy quân đội tiêu diệt và đánh đuổi hết bọn chúng. Không cam chịu thất bại, ngay năm sau (1962), lợi dụng vụ “tên lửa của Liên Xô ở Caribe” Mỹ định can thiệp vào Cu-ba, nhưng cũng không thành. Nước láng giềng này còn lôi kéo các đồng minh, kích động cả một số nước lân cận, nuôi dưỡng bọn phản động người Cu-ba lưu vong ở Mai-a-mi (thành phố thuộc bang Flo-ri-đa) để thường xuyên chống phá, thực hiện nhiều âm mưu đen tối nhằm ám hại Chủ tịch Fidel Castro…
Sau khi Liên Xô tan rã kéo theo sụp đổ của các nước XHCN ở Đông Âu, Cu-ba không còn nguồn viện trợ như trước, Oa-sinh-tơn (Washington) càng tăng sức ép, siết chặt lệnh cấm vận, bao vây hầu hết các mặt (kinh tế, chính trị, quân sự, ngoại giao), ngăn cấm mọi ngả đường ra vào làm cho Cu-ba càng thêm khó khăn.
Hoàn cảnh nghiệt ngã như thế, nhưng nhân dân Cu-ba quyết không lùi bước, vẫn kiên trì con đường mà mình đã chọn: Xây dựng Chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc nền độc lập, chủ quyền quốc gia.
Hào hiệp và thủy chung
Với bạn bè, đồng chí, Cu-ba hào hiệp, thủy chung hết mực. Tình đoàn kết hữu nghị với Việt Nam thật hiếm thấy trong quan hệ quốc tế. Được tin Mỹ mở rộng đánh phá ra miền Bắc hòng đưa miền Bắc trở lại thời kỳ đồ đá, thì tại Lễ kỷ niệm 7 năm Ngày Cách mạng Cu-ba thành công (1-1966), trước hàng chục vạn người tham dự, Tổng Tư lệnh tối cao của Cách mạng Cu-ba Fidel Castro đã phát biểu những lời như tạc vào lịch sử: Vì Việt Nam, Cu-ba sẵn sàng hiến cả máu của mình!
Tháng 9-1973, chiến trường miền Nam vừa ngừng tiếng súng theo Hiệp định Pa-ri, khắp nơi còn ngổn ngang vết tích chiến tranh, Chủ tịch Fidel Castro đã bay sang thăm vùng giải phóng. Đứng giữa “vòng vây” của các chiến sĩ Quân giải phóng (có người còn khoác nguyên súng đạn trên vai), tại cao điểm 241 hãy đang còn ngổn ngang xác xe tăng Mỹ, ông phất cao cờ của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, dõng dạc hô to như truyền lệnh: Các đồng chí hãy mang lá cờ bách chiến bách thắng này cắm tại Sài Gòn!... Hẹn gặp lại khi Việt Nam thống nhất!
Cu-ba là nước đầu tiên trên thế giới công nhận Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và đã cử Đại sứ sang trình quốc thư tại đây. Những việc làm này của Cu-ba càng tăng thêm uy tín cho Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam trên trường quốc tế, đồng thời là nguồn động viên to lớn đối với quân và dân cả nước ta.
Tận mắt được thấy hoàn cảnh của Việt Nam sau chiến tranh, thay mặt nhân dân Cu-ba, ông đã quyết định tặng Việt Nam 5 công trình có giá trị kinh tế lớn và thiết thực: Khách sạn Thắng Lợi, Bệnh viện Hữu nghị Việt Nam - Cu-ba ở Quảng Bình, trại bò Mộc Châu, trại gà Lương Mỹ, đường cao tốc Xuân Mai. Ngoài ra, Cuba còn viện trợ 5 triệu USD để giúp mua thiết bị, máy móc.
Dù hoàn cảnh kinh tế của mình cũng có nhiều khó khăn, nhưng Cu-ba đã nhận đào tạo cho Việt Nam hơn một nghìn sinh viên và cán bộ kỹ thuật trên đại học, thường xuyên gửi hàng nghìn tấn đường sang tặng nhân dân ta.
Khi nói “vượt trùng dương đi cứu bạn”, người ta nghĩ ngay tới Cu-ba. Vào những năm tám mươi của thế kỷ 20, hàng nghìn quân tình nguyện của Cu-ba đã sang tận châu Phi chiến đấu giúp cách mạng các nước Ăng-gô-la, Mô-dăm-bích, Ê-ti-ô-pi-a. Mới đây, khi căn bệnh chết người ê-bô-la hoành hành ở Tây Phi, nhiều thầy thuốc của Cu-ba lại bất chấp hiểm nguy, vượt trùng dương lên đường sang tận nơi dập đại dịch.
Người du kích anh hùng Chê Ghê-va-ra với ngôi sao trên mũ nay vẫn là một hình tượng đẹp ở Mỹ La-tinh. Để lại vị trí Bộ trưởng trong Chính phủ Cách mạng Cu-ba, ông tình nguyện sang chiến đấu trong bưng biền nước Bô-li-vi-a với lý tưởng giải phóng Mỹ La-tinh. Trước khi hy sinh, ông đã kịp để lại câu nói bất hủ mà nay vẫn còn được truyền tụng: Thế giới cần thêm những Việt Nam!