Gần 300.000 trường hợp kết hôn xuyên biên giới
Theo thống kê của các địa phương, tính đến hết 31-12-2010 đã có trên 294.280 trường hợp công dân Việt Nam kết hôn với người nước ngoài hoặc với công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài, thuộc trên 50 quốc gia và vùng lãnh thổ khác nhau, trong đó nhiều nhất là Đài Loan, Hàn Quốc, Đức, Hoa Kỳ, Canada, Pháp, Australia, Thụy Điển, .v.v.
Tuy nhiên, việc kết hôn giữa phụ nữ Việt Nam với người nước ngoài thường mang tính chất phong trào và tập trung vào một số địa bàn như : Đài Loan, Hàn Quốc. Nhiều trường hợp kết hôn không dựa trên nguyên tắc hôn nhân tự nguyện, tiến bộ mà chủ yếu là vì mục đích kinh tế. Do đó, quá trình đi đến hôn nhân thường rất nhanh chóng, vội vàng, đơn giản, hầu hết thông qua môi giới sắp xếp và không ít trường hợp các cô gái trẻ kết hôn với người chồng già yếu, tàn tật, hạn chế năng lực hành vi dân sự ...
Phần lớn các cô dâu trước khi ra nước ngoài sinh sống cùng chồng chưa được tư vấn đầy đủ về pháp luật, ngôn ngữ, phong tục, tập quán của nước sở tại nên đã gặp nhiều khó khăn trong giao tiếp cũng như hòa nhập cộng đồng. Nhiều trường hợp đã rơi vào hoàn cảnh bất hạnh nhưng không được giúp đỡ, bảo vệ.
Trong khi đó, hoạt động kinh doanh môi giới kết hôn nhằm mục đích trục lợi, bất hợp pháp của một số tổ chức, cá nhân phát triển mạnh mẽ, đặc biệt là ở TP Hồ Chí Minh và các tỉnh Tây và Đông Nam bộ. Nhiều trường hợp môi giới kết hôn diễn ra dưới hình thức chọn vợ tập thể, thiếu văn hóa, vi phạm thuần phong mỹ tục dân tộc Việt Nam, hạ thấp danh dự, nhân phẩm của phụ nữ Việt Nam ... Trong khi đó những kẻ môi giới chỉ biết chạy theo lợi nhuận bất chính, coi thường pháp luật.
Phỏng vấn - hình thức quá hoá mất hiệu quả
Đã sáu năm kể từ ngày Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 03/2005/CT-TTg để khắc phục tình trạng trên, tuy tình hình đã có nhiều chuyển biến nhờ những nỗ lực cố gắng của các cấp, các ngành song vẫn còn tồn tại nhiều vướng mắc, bất cập, điển hình như việc phỏng vấn các bên có nhu cầu kết hôn.
Theo quy định của pháp luật, trách nhiệm phỏng vấn hai bên kết hôn thuộc Sở Tư pháp, nhưng trên thực tế việc tổ chức phỏng vấn ở các địa phương không thống nhất, có địa phương thành lập cả một hội đồng (gồm đại diện các ngành: tư pháp, công an, phụ nữ) để tiến hành phỏng vấn.
Ở nhiều địa phương, câu hỏi phỏng vấn được lặp đi lặp lại do đó những người đi phỏng vấn có thể dễ dàng đối phó bằng cách học thuộc các câu trả lời. Cũng có địa phương xây dựng cả một bộ câu hỏi, như một dạng ngân hàng đề thi, và công khai bộ câu hỏi... Tại nhiều nơi, cán bộ phỏng vấn lại không có trình độ ngoại ngữ, nếu có thì chỉ biết tiếng Anh nên lệ thuộc vào phiên dịch, cán bộ hộ tịch của Sở Tư pháp chỉ là người ghi chép lại, khó đảm bảo sự chính xác, khách quan, vô tư về kết quả phỏng vấn.
Bên cạnh đó, trong thời gian qua, giữa các cơ quan ban ngành có liên quan chưa xác lập được cơ chế thông tin thường xuyên về tình hình sinh sống của công dân Việt Nam kết hôn với người nước ngoài và đang sinh sống ở nước ngoài. Việc xử lý các hành vi môi giới hôn nhân bất hợp pháp chưa được cương quyết, chưa có tác dụng ngăn chặn, răn đe và phòng ngừa, hoạt động quản lý nhân khẩu, tạm trú, tạm vắng, quản lý xuất nhập cảnh ; tình trạng này cũng đã tạo kẽ hở cho một số người nước ngoài cấu kết với một số đối tượng trong nước để hoạt động môi giới phụ nữ Việt Nam kết hôn với người nước ngoài một cách bất hợp pháp.
Vì vậy, theo kiến nghị của Bộ Tư pháp, trong thời gian tới, các cơ quan ban ngành có liên quan cần tiếp tục xây dựng và hoàn thiện thể chế, tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức về hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài. Các chính sách bảo hộ cho cô dâu Việt Nam ở nước ngoài cần cụ thể hơn, đặc biệt là các trường hợp cô dâu gặp rủi ro trong cuộc sống hôn nhân.
Việc dạy nghề, cho vay vốn để sản xuất, kinh doanh, tạo công ăn, việc làm ổn định cho nữ thanh niên nông thôn, miền núi để họ có điều kiện tạo lập cuộc sống ổn định tại quê nhà cũng cần được quan tâm sát sao hơn nữa. Đối với phụ nữ, trẻ em bị lừa gạt qua con đường kết hôn từ nước ngoài về nước sinh sống cần có chính sách tạo việc làm phù hợp, tạo điều kiện tốt nhất để họ có thể nhanh chóng tái hòa nhập cộng đồng.
Các cán bộ làm công tác giải quyết việc kết hôn có yếu tố nước ngoài phải đảm bảo vừa có năng lực, vừa có trách nhiệm, đạo đức nghề nghiệp, tránh việc cán bộ lợi dụng những quy định của pháp luật để gây phiền hà, sách nhiễu cho công dân.