“Xé rào” trì trệ & bài học thực tiễn

Đầu xuân 2013, trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu đang suy thoái, xin nhắc lại một số sự kiện tìm tòi từ thực tiễn ở các tỉnh phía nam hơn 30 năm trước, để làm bài học cho hôm nay, khi đất nước lại đứng trước những khó khăn, thách thức đòi hỏi phải tiếp tục đổi mới tư duy, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm.

Công cuộc đổi mới từng phần đến đổi mới toàn diện đất nước khởi đầu mấy chục năm trước đã để lại bài học thật đáng giá về sức vươn lên của nhân dân ta trong hoàn cảnh muôn vàn khó khăn sau chiến tranh.

Sau bao trăn trở, tìm kiếm và cả tranh cãi nảy lửa, Trung ương Đảng đã phát tín hiệu tìm đường đổi mới từ sau Hội nghị Trung ương 6 (1979 - khóa IV), với khoán hộ trong nông nghiệp và cởi trói trong quản lý xí nghiệp công nghiệp quốc doanh với kế hoạch ba phần...

Cũng trong thời kỳ này, mỗi địa phương, mỗi ngành và các doanh nghiệp ở các địa phương, vùng miền, căn cứ vào thực tiễn đã chủ động tìm kiếm, thử nghiệm cơ chế mới, đôi khi được gọi là “xé rào”, tức là bung ra thử nghiệm cơ chế mới. Đây là quá trình giằng xé giữa cái cũ đã được hợp pháp hóa và cơ chế mới đang hình thành nhưng còn nhiều bất cập... để đi tới chủ trương đổi mới toàn diện đất nước.

1- Xuất khẩu tam giác: Mô hình “cứu” ba ngành

Dệt may Thành Công tìm lối đi mới, tự vay vốn, tự mua nguyên liệu giá ngoài, tự sản xuất theo kế hoạch riêng rồi tự bán ra ngoài. Số ngoại tệ, giám đốc vay vốn ban đầu đủ mua 200 tấn sợi và một số hóa chất đã giúp công nhân Xí nghiệp Dệt Thành Công trở lại chứng kiến thời đơn hàng đặt tới tấp.

Con đường “xuất khẩu tại chỗ” bước đầu đưa Dệt Thành Công từ chỗ xập xệ phá sản tới ánh sáng hồi sinh. Bước sang năm 1981, Dệt Thành Công đã xây dựng phương án sản xuất kinh doanh với nội dung vay ngoại tệ thực hiện cơ chế “xuất khẩu tam giác” để tự cân đối kế hoạch, thực chất vẫn là xuất khẩu tại chỗ với quy mô mở rộng.

Cơ chế này được giải trình đầy đủ trong phương án như một đặc cách của một cơ chế riêng để thoát khỏi cơ chế chỉ tiêu, chính sách tự cân đối vốn, nguyên liệu, lương công nhân, được mở tài khoản ở Vietcombank, được giao dịch trực tiếp, được trực tiếp xuất nhập khẩu, được khoán quỹ lương.

Đây là cơ sở mang về cho nhà máy doanh số năm 1981 đạt ba triệu USD.

Chỉ khi Dệt Thành Công chứng minh mô hình xuất khẩu tam giác có lợi trong thực tiễn cho nhiều “anh”: dệt may, nông dân, du lịch... thì đồng lương công nhân theo quy định từ 60 đồng/tháng mới vọt lên 250 đồng, rồi 450 đồng...

2- Đột phá “bù giá vào lương” hay cơ chế một giá

Ông Chín Cần có hai lần nhận cương vị Bí thư Tỉnh ủy Long An, vào đầu thập niên 50 và ngay sau giải phóng.

Sau những hân hoan ngày đại thắng, Long An cũng như cả nước phải đối mặt với những khó khăn chồng chất về kinh tế xã hội khi những khuyết tật của mô hình kế hoạch hóa chỉ huy tập trung và bao cấp ngày càng bộc lộ gay gắt. Rõ nét nhất là cơ chế giá cả. Sự áp đặt chủ quan, tùy tiện trong định giá đã tạo ra sự chênh lệch lớn giữa giá thị trường tự do với giá chỉ đạo của Nhà nước. Khoản chênh lệch ấy chính là miếng mồi béo bở cho các hoạt động bòn rút hàng từ tay Nhà nước sang túi các cá nhân. Đời sống của cán bộ, công nhân, viên chức, lực lượng vũ trang ngày càng khó khăn. Lương quá thấp nên công nhân, viên chức tìm mọi cách để lo toan cuộc sống gia đình theo kiểu “chân ngoài dài hơn chân trong”, thậm chí xin nghỉ hoặc tự bỏ việc để kiếm sống.

Khởi đầu thí điểm là thử tính chuyển tiền lương bao cấp trả lương theo giá thị trường. Nếu theo phương án này, tỉnh nắm được hàng hóa, giá cả; còn người hưởng lương thoải mái lựa chọn hàng mua. Dân buôn, đầu cơ, nhân viên thương nghiệp... hết cửa tung hoành, tiêu cực. Nhà nước tiết kiệm được khoản bù lỗ cho thương nghiệp, tem phiếu, thời gian... Cơ chế bù giá vào lương hình thành từ đó.

Trên thực tế, để có được cơ chế trả lương theo giá thị trường cũng đầy gian khổ, vì cách làm từ thực tiễn đó trái hẳn các quy định hiện hành. Lúc đó, chỉ có tầm nhìn rộng mở của những cán bộ lãnh đạo như ông Chín Cần, Bí thư Tỉnh ủy mới dám làm dám chịu trách nhiệm để điều chỉnh cho sát thực tiễn. Cơ chế trả lương theo mô hình Long An đã được trăn trở và hình thành như vậy.

3- Dũng cảm đổi mới từ thực tiễn cuộc sống

Ở miền nam, cơ chế thị trường đã vận hành trong thực tế nhiều năm, nên khi Nhà nước “buông ra”, “lỏng tay” quản lý theo kiểu quan liêu bao cấp, kế hoạch hóa nặng nề, thì sáng kiến từ cơ sở cũng nảy nở rất đa dạng. Và ở đây phải ghi nhận vai trò đầu tàu của chính những người lãnh đạo sát cơ sở, dám nghĩ dám làm, dám chịu trách nhiệm.

Có thể nói, trong điều kiện cực kỳ khó khăn, không thể làm như cũ, nhiều đồng chí lãnh đạo có tư duy đổi mới đã “bật đèn xanh” cho các sáng kiến riêng lẻ, tự phát, thử nghiệm ban đầu, để hoàn thiện, bổ sung, tổng kết nâng dần lên thành các chủ trương cho đổi mới. Những thành tựu của TP Hồ Chí Minh trong ngành dệt, thuốc lá; ở Long An trong cơ chế một giá; ở Vũng Tàu - Côn Đảo trong khoán đánh bắt thủy sản; ở An Giang, Long An trong sản xuất nông nghiệp... đã được đón nhận trân trọng, dù vẫn còn không ít lời phê phán.

Nhưng chính các thử nghiệm ban đầu đã chứng minh sức sống, phù hợp quy luật và đã là cơ sở thực tiễn để tạo nên cuộc đổi mới vĩ đại từ những “đốm lửa” chói sáng mở đầu sự nghiệp phát triển mạnh mẽ những năm sau đó.

4 - Vì sao “xé rào” đúng hướng và bài học hôm nay

Công cuộc đổi mới đã được trăn trở và nhen nhóm từ mọi vùng miền cả nước, cả về lý luận và thực tiễn. Nhưng trong lĩnh vực kinh tế thì các tỉnh phía nam hình như đã đi đầu với nhiều hình mẫu đa dạng và khá thành công. Có một thực tế là, các tỉnh Nam Bộ đã nhiều năm làm quen với cơ chế thị trường, với tư duy làm ăn phóng khoáng của vùng đất mới mới mấy trăm năm lịch sử. Dù sau 1975 đã bị phá hỏng nhiều thành tố của kinh tế thị trường bằng hàng loạt hoạt động “cải tạo”, nhưng sức sống của cơ chế thị trường vẫn tồn tại.

Bài học kinh nghiệm “xé rào” thành công ở miền nam cùng với các mô hình khác trong cả nước đã góp phần khẳng định quan điểm thực tiễn, sự sâu sát lắng nghe nhân dân; nắm vững chủ trương đường lối bên cạnh nắm vững quy luật kinh tế khách quan, phát huy khơi dậy vai trò sáng tạo của nhân dân, vai trò đầu tàu định hướng dám đứng mũi chèo thuyền vượt sóng gió của lãnh đạo địa phương và trung ương trước các vấn đề thực tiễn và lý luận mới, khó, phức tạp; cũng như kinh nghiệm về tổng kết thực tiễn thành lý luận.

* TRONG BỐI CẢNH CHÚNG TA ĐANG TÁI CẤU TRÚC NỀN KINH TẾ, ĐỔI MỚI MÔ HÌNH TĂNG TRƯỞNG TỪ NHỮNG BÀI HỌC SÁT SƯỜN VỀ QUẢN LÝ KINH TẾ VĨ MÔ NHỮNG NĂM QUA LIÊN QUAN TỚI NHỮNG VẤN ĐỀ HẾT SỨC THỜI SỰ NHƯ: VAI TRÒ, HIỆU QUẢ CỦA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XHCN; VỀ ĐIỀU HÀNH TÀI CHÍNH, TIỀN TỆ, QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI, TƯ LIỆU SẢN XUẤT..., NHỮNG BÀI HỌC CŨ VẪN NGUYÊN GIÁ TRỊ.

Có thể bạn quan tâm