Mở rộng xu hướng điều tra “kép” và “chùm”
Là quốc gia sử dụng các biện pháp phòng vệ thương mại nhiều nhất đối với hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam, ngay cả trước thời điểm Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), nhiều mặt hàng xuất khẩu chủ lực của nước ta như: cá tra, tôm, tôn cán, thép định hình, đồ điện tử đã thường xuyên bị phía Hoa Kỳ điều tra và áp dụng thuế chống bán phá giá.
Theo số liệu từ Cục Phòng vệ thương mại, Bộ Công thương, tính đến nay, Hoa Kỳ đã tiến hành điều tra 77 vụ trên tổng số 297 vụ việc nước ngoài điều tra (chiếm gần 26%); trong đó bao gồm: 35 vụ việc chống bán phá giá, 16 vụ việc chống trợ cấp, 23 vụ việc chống lẩn tránh thuế phòng vệ thương mại và 3 vụ việc tự vệ. Các vụ việc phòng vệ thương mại do Hoa Kỳ khởi xướng đối với Việt Nam có phạm vi rất rộng, trải khắp các nhóm hàng hóa.
Ông Chu Thắng Trung, Phó Cục trưởng Cục Phòng vệ thương mại, Bộ Công thương, cho biết, số lượng gia tăng các vụ việc phòng vệ thương mại không còn là hiện tượng nhất thời mà trở thành một đặc điểm mang tính cấu trúc của nền thương mại hiện đại. Khi quy mô xuất khẩu tăng nhanh, các quốc gia nhập khẩu có xu hướng sử dụng các công cụ phòng vệ thương mại như một lá chắn để bảo hộ sản xuất trong nước.
Điều đáng nói, theo ông Chu Thắng Trung, Hoa Kỳ là thị trường thường xuyên điều tra “kép” - kiểu điều tra bằng nhiều biện pháp với cùng một sản phẩm. Đơn cử, sản phẩm pin năng lượng mặt trời bị áp thuế tự vệ, thuế chống lẩn tránh, thuế chống bán phá giá và chống trợ cấp; hay các sản phẩm nhôm cũng bị áp thuế chống lẩn tránh thuế chống bán phá giá và chống trợ cấp và bị điều tra chống bán phá giá...
Ngoài ra, việc tham gia các chuỗi cung ứng khu vực thông qua tham gia quản lý nhà máy nhiều Hiệp định thương mại tự do (FTA) khiến Việt Nam trở thành quốc gia thường xuyên bị Hoa Kỳ điều tra chung (kiểu điều tra “chùm”) với một số quốc gia có kim ngạch xuất khẩu lớn, thường xuyên bị điều tra phòng vệ thương mại, như: Trung Quốc, Ấn Độ... Đặc biệt, xu hướng điều tra của Hoa Kỳ ngày càng khắt khe hơn. Quốc gia này thường yêu cầu Chính phủ và doanh nghiệp Việt Nam bổ sung nhiều thông tin, chặt chẽ về gia hạn thời hạn nộp bản trả lời câu hỏi, thay đổi tiền lệ trong việc xác định xuất xứ, sở hữu trí tuệ...
Cùng với đó, mức thuế phòng vệ thương mại đối với Việt Nam cũng bị đẩy lên cao do Hoa Kỳ sử dụng chi phí của một nước thứ ba (nước thay thế) để tính giá trị thông thường trong các vụ việc chống bán phá giá, khiến mức thuế tăng cao bất thường và không phản ánh đúng thực trạng sản xuất, xuất khẩu của Việt Nam.
Theo ông Đỗ Ngọc Hưng, Tham tán thương mại, Trưởng Cơ quan Thương vụ Việt Nam tại Hoa Kỳ, xu hướng điều tra của quốc gia này trong giai đoạn mới không chỉ tập trung vào yếu tố giá bán hay trợ cấp truyền thống mà còn mở rộng sang các nội dung liên quan sở hữu trí tuệ, chuỗi cung ứng, xuất xứ nguyên liệu, lao động cưỡng bức, phát thải carbon, tính minh bạch trong quản trị doanh nghiệp và khả năng truy xuất nguồn gốc...
Chuẩn hóa và minh bạch - điều kiện “tiên quyết” để giữ đơn hàng
Trước số lượng các vụ việc phòng vệ thương mại gia tăng từ thị trường Hoa Kỳ, lãnh đạo Cục Phòng vệ thương mại - cơ quan đầu mối hỗ trợ doanh nghiệp xử lý các vụ việc phòng vệ thương mại của nước ngoài đã triển khai hàng loạt biện pháp nhằm giúp doanh nghiệp ứng phó các vụ việc và bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của doanh nghiệp Việt Nam trên thị trường quốc tế. Nhờ đó, nhận thức của cộng đồng doanh nghiệp về phòng vệ thương mại đang dần được nâng cao.
Tuy nhiên, công tác phòng vệ thương mại trong nước vẫn đang đối mặt với những thách thức đến từ việc Hoa Kỳ chưa công nhận Việt Nam là nền kinh tế thị trường; chi phí theo đuổi các vụ kiện tại Hoa Kỳ đắt đỏ và quan trọng hơn, Việt Nam vẫn đang thiếu hụt đội ngũ luật sư và chuyên gia có khả năng tranh tụng bằng tiếng Anh, hiểu sâu về các quy định phức tạp của Bộ Thương mại Hoa Kỳ (DOC).
Để nâng cao hiệu quả công tác phòng vệ thương mại tại thị trường Hoa Kỳ, Cục Phòng vệ thương mại khuyến nghị, cộng đồng doanh nghiệp cần nâng cấp hệ thống cảnh báo sớm, trong đó tích hợp dữ liệu từ các hãng tin kinh tế lớn và dữ liệu hải quan quốc tế để dự báo chính xác hơn các xu hướng điều tra “chùm” hoặc điều tra lẩn tránh thuế. Ngoài ra, phát triển đội ngũ chuyên gia, chuyên sâu về luật thương mại quốc tế và kỹ năng bóc tách chi phí sản xuất theo tiêu chuẩn của Hoa Kỳ.
Đáng chú ý, cơ quan chức năng và cộng đồng doanh nghiệp cần theo sát xu hướng điều tra của Hoa Kỳ trong giai đoạn mới, ông Đỗ Ngọc Hưng cảnh báo và cho rằng, xu hướng này đặt ra yêu cầu ngày càng cao đối với doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam.
Để giảm thiểu rủi ro bị điều tra, áp thuế và bảo vệ lợi ích doanh nghiệp trong bối cảnh môi trường thương mại toàn cầu biến động mạnh, xu hướng bảo hộ gia tăng và cạnh tranh chiến lược giữa các nền kinh tế lớn ngày càng gay gắt, theo ông Đỗ Ngọc Hưng, công tác phòng vệ thương mại cần được xác định không chỉ là công cụ xử lý tranh chấp mà phải trở thành một cấu phần quan trọng trong chiến lược phát triển xuất khẩu bền vững của Việt Nam.
Đặc biệt, “trong bối cảnh mới, vấn đề không còn chỉ là làm sao để “vào được thị trường”, mà là làm thế nào để “duy trì thị trường” và “mở rộng thị phần” một cách bền vững. Chính vì vậy, lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam tại Hoa Kỳ sẽ không chỉ nằm ở giá cả hay năng lực sản xuất, mà ngày càng phụ thuộc vào bản quyền, sở hữu trí tuệ, vào khả năng tuân thủ, khả năng minh bạch hóa chuỗi cung ứng và khả năng thích ứng các biến động lớn của môi trường thương mại quốc tế”, ông Đỗ Ngọc Hưng nhấn mạnh ■
Yêu cầu về rà soát nhà cung cấp, chuẩn hóa chứng từ và minh bạch hóa nguồn gốc đầu vào trở thành điều kiện tiên quyết để giữ được đơn hàng của thị trường Hoa Kỳ.