Đổi mới mô hình tăng trưởng:

Đòi hỏi tất yếu để cải cách nền kinh tế

Chúng ta bước vào năm 2026 với nhiều thay đổi quan trọng cho 5 năm tới. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV đã kết thúc thành công. Đại hội đã giải quyết nhiều vấn đề thực tiễn mà cuộc sống cũng như nền kinh tế đặt ra.

Một trong những động lực quan trọng góp phần thực hiện hiệu quả mô hình tăng trưởng mới chính là sức mua tiêu dùng nội địa được tạo ra từ niềm tin vào hàng hóa trong nước. (Ảnh Thành đạt)
Một trong những động lực quan trọng góp phần thực hiện hiệu quả mô hình tăng trưởng mới chính là sức mua tiêu dùng nội địa được tạo ra từ niềm tin vào hàng hóa trong nước. (Ảnh Thành đạt)

Về bối cảnh quốc tế, có thể nói chưa bao giờ việc dự báo nắm bắt tình hình khó khăn như thời gian hiện nay. Thế giới chuyển từ liên kết đa phương toàn cầu hóa sang kinh tế song phương với lợi ích quốc gia dân tộc được đặt lên trên hết, bắt đầu từ phong trào làm cho nước Mỹ vĩ đại trở lại của Tổng thống thứ 47 Hoa Kỳ Donald Trump. Cùng với đó, hình thành nhiều cực tăng trưởng trên thế giới, mà điển hình là việc nhóm các nước BRICS đã dần khẳng định vị thế trong thị trường thương mại và tiền tệ thế giới, trong khi các nước Liên minh châu Âu (EU) vẫn tiếp tục có tốc độ tăng trưởng thấp trong thời gian dài, mà bản thân nội khối cũng còn nhiều bất đồng về vấn đề Ukraine và Greenland. Vì vậy, cần phải xác định được xu thế độc lập tự chủ trong những năm tới, để đạt được mục tiêu 2030 Việt Nam trở thành một quốc gia công nghiệp có thu nhập trung bình cao và năm 2045 trở thành quốc gia phát triển có thu nhập cao.

Lời hứa của Đảng trước nhân dân do Tổng Bí thư Tô Lâm công bố - đến năm 2030 nước ta trở thành một quốc gia công nghiệp có thu nhập trung bình cao, và đến 2045 nước ta trở thành quốc gia phát triển có thu nhập cao - là một nhiệm vụ rất to lớn, nặng nề, đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân phải có một “tư duy đổi mới” để không ngừng đổi mới nhận thức về con đường quá độ đi lên Chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

Để đạt được mục tiêu rất cao mà Đảng đã hứa với nhân dân đó, yêu cầu tất yếu cho những năm tới là chuyện tốc độ tăng trưởng kinh tế phải đạt hai con số. Vấn đề đặt ra ở đây: Trong bối cảnh quốc tế như hiện nay, các nguồn lực phục vụ cho tăng trưởng kinh tế theo kiểu cũ đã dần đi tới giới hạn.

Việc tìm ra thêm những động lực tăng trưởng mới cho nền kinh tế đã được Đại hội chỉ ra bằng việc chuyển đổi số được triển khai rộng rãi trong mọi lĩnh vực của đời sống và kinh tế. Chuyển đổi số trong lĩnh vực kinh tế không chỉ là số hóa các giao dịch và phục vụ quản trị doanh nghiệp, mà phải là chuyển đổi tự động hóa hệ thống máy móc thiết bị sản xuất hiện đang có tại doanh nghiệp theo thời gian thực. Đồng thời, có liên kết với thị trường - người tiêu dùng - để nâng cao chất lượng dịch vụ dựa trên nền tảng số (trí tuệ nhân tạo, xử lý dữ liệu lớn…) và thời gian thực. Việc triển khai tự động hóa, số hóa quá trình sản xuất đồng nghĩa với việc đưa vào những trang thiết bị sử dụng công nghệ tiên tiến, hình thành nên một nền kinh tế tuần hoàn do sử dụng ít nguyên liệu hơn, ít chất thải hơn, ít lao động phổ thông hơn. Nhờ đó, nâng cao hiệu quả vốn đầu tư cho nhà đầu tư, đồng thời đáp ứng được các yêu cầu về kinh tế xanh của Nhà nước.

Đại hội lần này cũng chứng kiến một sự cải cách to lớn về việc xây dựng các văn kiện trình Đại hội. Đại hội đã tích hợp báo cáo chính trị, báo cáo kinh tế-xã hội 5 năm cũng như lĩnh vực xây dựng Đảng thành một báo cáo chung, từ đó xây dựng chương trình hành động của Chính phủ để thực hiện các mục tiêu đã nêu trong báo cáo chính trị.

Bên cạnh các kết quả về việc sắp xếp lại các đơn vị hành chính, Đại hội cũng chỉ ra một nhiệm vụ cấp bách là phát triển kinh tế vùng, từ 7 vùng kinh tế trước kia đã chuyển thành 6 vùng. Việc rút gọn này đã tạo ra sự kết nối giữa vùng núi, khu vực miền Trung Tây nguyên với biển, tăng quy mô thị trường, tạo không gian đủ lớn để bố trí các cụm ngành bổ trợ cho nhau. Đặc biệt, việc quản lý theo vùng lớn có tác dụng rất rõ nét đối với việc cơ cấu lại nền kinh tế dựa trên thế mạnh tự nhiên và tiềm năng hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời giải quyết tương đối triệt để vấn đề an ninh nguồn nước và xử lý sau thiên tai. Điểm mới ở đây là xóa bỏ ranh giới hành chính của không gian kinh tế, bởi vì không gian kinh tế là một thực thể thống nhất, không phụ thuộc vào địa giới hành chính mà là một không gian để các doanh nghiệp chủ động liên kết, tận dụng thế mạnh của nhau, tạo ra một sản phẩm có sức cạnh tranh trên thị trường. Trong chương trình hành động của Chính phủ cũng đã xác định: Việc phát triển sáu vùng kinh tế không phải là áp dụng một mô hình thống nhất, mà là mô hình tăng trưởng dựa trên tính riêng biệt và đặc thù của từng vùng, với mỗi vùng hình thành một hệ sinh thái hoàn chỉnh dựa trên thế mạnh cốt lõi.

img-20250908-134643.jpg
Các doanh nghiệp đã dựa trên nền tảng số, trang thiết bị sử dụng công nghệ để nâng cao chất lượng dịch vụ, kết nối thị trường và người tiêu dùng. (Ảnh THU THỦY)

Nhìn lại kết quả phát triển kinh tế xã hội năm 2025 và cả nhiệm kỳ 2021 - 2025, chúng ta thấy nhiều điểm sáng nổi lên trong bức tranh toàn cảnh. Nếu tính riêng năm 2025, tốc độ tăng trưởng GDP của cả nước đạt 8,02%, nếu tính cả kế hoạch 5 năm thì đạt hơn 6,3%, và nếu bỏ qua hai năm ảnh hưởng của dịch Covid-19 thì tốc độ tăng trưởng còn cao hơn nữa, vượt 7%, xóa bỏ xu thế từ năm 2000 đến nay là cứ chu kỳ 10 năm sau thì có tốc độ tăng trưởng lại chậm hơn từ 0,5 - 0,7% của 10 năm trước. Đầu tư công trong giai đoạn vừa qua đã tương đối tập trung vào khâu đột phá cơ sở hạ tầng. Nhờ vậy, đến nay Việt Nam đã có hơn 3.000 km đường cao tốc đưa vào vận hành, góp phần quan trọng của việc giảm chi phí logistics, tăng tính cạnh tranh của sản phẩm.

Những thành quả đạt được trong 5 năm vừa qua chính là cơ sở quan trọng tạo điều kiện để cho chúng ta bước vào thời kỳ mới, hướng tới mục tiêu mới. Trong 5 bài học của 40 năm đổi mới được trình tại Đại hội XIV, đã chỉ rõ những vấn đề về kinh tế luôn luôn gắn liền với bối cảnh quốc tế và khu vực, phù hợp với quá trình phát triển của đất nước, bảo đảm hài hòa giữa các yếu tố nội lực và ngoại lực.

Bài học này được đặt trên nền tảng niềm tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng thông qua các thành tựu đạt được trong 40 năm đổi mới, đồng thời cũng thể hiện sự tin tưởng tuyệt đối của Đảng đối với nhân dân. Bởi, trong quá trình đổi mới, Đảng cũng có những sai lầm tồn tại nhưng vẫn tin tưởng rằng sự sáng suốt sẽ giúp nhân dân đặt niềm tin vào Đảng, nhờ đó đất nước kiên cường vượt qua những sóng gió cả về kinh tế (thời kỳ khủng hoảng nợ công và khủng hoảng tài chính) cũng như trong đại dịch Covid-19.

Nhiệm vụ đặt ra cho những năm tới là hết sức nặng nề. Trước hết, về mặt lý luận, chúng ta phải hoàn thành mô hình kinh tế-xã hội Việt Nam theo từng giai đoạn, từng mục tiêu mà Đảng đã đề ra. Có thể phải nghiên cứu để đến Đại hội XV sửa đổi, điều chỉnh Cương lĩnh 2011, nhằm xác định rõ mô hình thời kỳ quá độ khi nước ta trở thành một quốc gia công nghiệp được cơ cấu như thế nào, vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước cho việc dẫn dắt nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa kết hợp hài hòa với kinh tế tư nhân - một động lực quan trọng để phát triển đất nước.

Với mô hình kiểu mới chính quyền địa phương hai cấp, với quyết tâm cao và chương trình hành động cụ thể đã được Đại hội XIV thông qua, chúng ta đã tự tin xác định vị trí của nước ta trên con đường quá độ lên Chủ nghĩa xã hội theo Cương lĩnh 1991 và 2011.

Thời gian không còn nhiều, đòi hỏi ngay sau Đại hội các cơ quan phải bắt tay vào triển khai thực hiện Nghị quyết với tinh thần đổi mới quyết liệt mà như các nhà khoa học hay nói là “đổi mới lần hai”. Đảng tự sửa mình, Đảng tin dân, dân tin Đảng chính là điều kiện bảo đảm cho thành công của việc thực hiện hai mục tiêu chiến lược đã đề ra n

Có thể bạn quan tâm