Nóng vấn đề lương hưu cho lao động nữ
Sáng 9-11, Quốc hội nghe Bộ trưởng Lao động - Thương binh và Xã hội Đào Ngọc Dung, thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ, trình bày Báo cáo về việc thực hiện mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới. Tiếp đó, Quốc hội cùng nghe Chủ nhiệm Ủy ban về các vấn đề xã hội của Quốc hội Nguyễn Thúy Anh trình bày Báo cáo thẩm tra Báo cáo về việc thực hiện mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới.
Đại biểu Trương Thị Bích Hạnh (Bình Dương) nêu rõ, quy định mới về lương hưu đối với lao động nữ nghỉ hưu từ năm 2018 gây thiệt thòi cho nhiều lao động nữ, khi lao động nữ về hưu vào năm 2018 sẽ được hưởng lương hưu thấp hơn 10% so với người có cùng thời gian đóng bảo hiểm xã hội nhưng về hưu từ năm 2017: “Theo quy định tại khoản 2 Điều 56 của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 cho thấy có sự khác biệt về giới trong cách tính lương hưu đối với lao động nam và lao động nữ nghỉ hưu từ ngày 1-1-2018, điều này thật sự gây thiệt thòi cho lao động nữ. Tôi đồng tình và đánh giá cao trách nhiệm của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã kịp thời báo cáo Chính phủ xem xét phương án về lộ trình thực hiện cách tính lương hưu đối với lao động nữ từ ngày 1-1-2018. Khi có ý kiến của các đại biểu Quốc hội, tôi đề nghị Chính phủ sớm trình Quốc hội xem xét quyết định về thời điểm có hiệu lực của quy định này chỉ còn gần 2 tháng nữa, nhằm bảo đảm quyền lợi chính đáng của lao động nữ, không tạo ra những bức xúc trong xã hội và cũng để bảo đảm ổn định tình hình quan hệ lao động vào những tháng cuối năm, tránh việc phản ứng chính sách như đã xảy ra với Điều 60, Luật Bảo hiểm xã hội trong thời gian vừa qua”.
Đại biểu Trần Thị Phương Hoa (Hà Nội - ảnh trên cũng đề nghị Chính phủ cần nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng tác động giới của việc thực hiện cách tính lương hưu đối với lao động nữ - "Phải có lộ trình phù hợp để bảo đảm bình đẳng ở cả cách tính lương, ở cả độ tuổi nghỉ hưu, vì hiện nay lương bình quân trước khi nghỉ hưu của nữ giới chỉ bằng 87% so với nam giới".

Đại biểu Nguyễn Thị Thu Hà.
Đại biểu Nguyễn Thị Thu Hà (đoàn Bắc Giang) - Chủ tịch Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam cũng chia sẻ những bức xúc về quy định lương hưu mới cho nữ giới này, khi đưa ra ý kiến “Cơ hội để một số lao động nữ được hưởng 75% lương hưu sau 1-1-2018 sẽ bị thu hẹp trong khi tuổi nghỉ hưu chưa thay đổi”. Đại biểu Nguyễn Thị Thu Hà đề nghị trước mắt, Chính phủ cần nghiên cứu để bảo đảm không giảm sút lương hưu cho phụ nữ nghỉ hưu từ ngày 1-1-2018. Về lâu dài, “nghiên cứu điều chỉnh tuổi nghỉ hưu phù hợp” theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng Toàn quốc lần thứ XII.
Bình đẳng trong cơ hội việc làm và bảo vệ giới nữ trước nhiều nguy cơ
Vấn đề việc làm và việc áp dụng các văn bản, quy định dành cho lao động nữ của các doanh nghiệp cũng được nhiều đại biểu quan tâm. Đại biểu Trương Thị Bích Hạnh (Bình Dương) cho biết, qua thanh tra ở 152 doanh nghiệp dệt may có 55 doanh nghiệp không thực hiện đúng các quy định của pháp luật liên quan đến lao động nữ, chiếm 36%. 12 địa phương được thanh tra thì có 6 địa phương có các doanh nghiệp vi phạm, chiếm 50%. Như vậy, có thể nói việc vi phạm chính sách pháp luật đối với lao động nữ trong doanh nghiệp là khá phổ biến. Tuy nhiên, báo cáo chưa thể hiện kết quả xử lý các vi phạm pháp luật về bình đẳng giới trong thời gian vừa qua.
Đại biểu Trương Thị Bích Hạnh.
Đại biểu Trương Thị Bích Hạnh cũng cho hay, theo báo cáo mặc dù việc thực hiện chỉ tiêu tạo việc làm cho mỗi giới bảo đảm ít nhất 40% hằng năm đều được đánh giá là đạt và vượt, song chất lượng việc làm của lao động nữ còn chưa ổn định và thiếu bền vững, do lao động nữ thường tập trung trong các lĩnh vực có trình độ chuyên môn thấp, làm việc trong các ngành thâm dụng lao động. Số liệu báo cáo cho thấy 70% lao động nữ thường làm việc trong các ngành lĩnh vực như dịch vụ, dệt may, dự án giầy, 41,1% lao động nữ làm công việc giản đơn. Tỷ lệ lao động nữ qua đào tạo thấp hơn nam. Tỷ lệ thất nghiệp thiếu việc làm ở lao động nữ đều cao hơn nam. Thu nhập bình quân hàng tháng của lao động nữ làm công hưởng lương thấp hơn 10,7% so với lao động nam. Mặt khác, tình trạng hạn chế sử dụng lao động nữ ở tuổi 35 trở lên, lao động sau tuổi 35 bị mất việc có xu hướng tăng trong thời gian vừa qua.
Đại biểu kiến nghị Chính phủ chỉ đạo các cơ quan chức năng nghiên cứu, xem xét để sớm có những giải pháp và can thiệp nhằm bảo vệ quyền lợi của người lao động, đặc biệt là lao động nữ và cũng để xây dựng các chính sách phù hợp trong thời gian tới.
Đại biểu Phan Văn Tường (Thái Nguyên) tham gia ý kiến.
Một số đại biểu cũng đề cập đến các vấn đề, nguy cơ mà phụ nữ thường hay gặp phải trong thực tế như: trong gia đình trọng nam hơn nữ, hiện tượng hôn nhân cưỡng bức đối tượng chủ yếu là phụ nữ, việc kết hôn trước tuổi, hiện tượng bóc lột, lao động tình dục, buôn bán người, không biết chữ, tái mù chữ, khắt khe hơn trong tuyển dụng với lao động nữ, trong sinh đẻ lựa chọn giới tính cũng vẫn còn, có gia đình ở khu vực nông thôn, phụ nữ chưa thực sự được tự do lựa chọn đời sống hôn nhân hoặc nghề nghiệp, tư tưởng tam tòng một số nơi vẫn làm chủ đạo để răn dạy giới nữ...
Đại biểu Nguyễn Thị Thu Hà ý kiến: “Nhiều vấn đề như ly hôn, bạo lực gia đình, xâm hại, mua bán phụ nữ, trẻ em, hôn nhân có yếu tố nước ngoài... đang làm ảnh hưởng đến sự an toàn, phát triển của phụ nữ, trẻ em và sự bền vững của gia đình nhưng chưa có giải pháp phòng ngừa hữu hiệu”.
Việc khó tiếp cận và thụ hưởng các chính sách, dịch vụ về giáo dục, y tế… ở các khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa, thậm chí ở nhiều vùng nông thôn cũng được nhiều đại biểu đề cập đến và đề nghị có những quan tâm, điều chỉnh phù hợp.
| Việc tổ chức thi hành luật pháp, chính sách về bình đẳng giới vẫn là khâu yếu nhất trong thời gian qua: Việc triển khai quán triệt, kiểm tra, giám sát việc thực hiện các văn bản chính sách, pháp luật về phụ nữ và bình đẳng giới còn chậm và thiếu đồng bộ, nhiều nơi chưa quan tâm. Trong 10 năm thực hiện Nghị quyết 11-NQ/TW về công tác phụ nữ, 4 tỉnh chỉ có 1 cuộc quán triệt, 5 tỉnh/thành chỉ kiểm tra, giám sát 3 năm/1 lần, có tỉnh không kiểm tra giám sát; 6 tỉnh không có bất cứ chính sách nào liên quan đến bình đẳng giới được ban hành hoặc sửa đổi. 23 tỉnh không bố trí đủ 35% nữ ứng cử viên trong danh sách bầu cử theo quy định của Luật Bầu cử; tỷ lệ trúng cử ở nam ứng cử viên là 68,4% và nữ chỉ đạt 39,2%. Sau 10 năm thực hiện Nghị quyết 11 về công tác phụ nữ và luật BĐG, khoảng cách giới của Việt Nam tụt 23 hạng từ 42/128 nước năm 2007 xuống 65/144 nước năm 2016. (Bà Nguyễn Thị Thu Hà - Chủ tịch Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam) |