Tiến sĩ Nguyễn Giáng Hương:

Tiếng Việt nuôi dưỡng lòng tự hào về văn hóa Việt Nam

Tiến sĩ Nguyễn Giáng Hương là chuyên gia, phụ trách tủ sách ngôn ngữ và văn học Đông Nam Á tại Thư viện Quốc gia Pháp (BnF). Bên cạnh công việc chuyên môn vốn đã bận rộn tại một trong những thư viện có lịch sử lâu đời và lớn nhất châu Âu, chị còn dành không ít thời gian để học hỏi, nghiên cứu phương pháp sư phạm và mở các khóa dạy tiếng Việt cho người Việt Nam xa xứ, người nước ngoài có mong muốn học để kết nối sâu sắc hơn với Việt Nam.

Tiếng Việt nuôi dưỡng lòng tự hào về văn hóa Việt Nam

Chị chia sẻ với Nhân Dân cuối tuần những suy ngẫm và kỳ vọng cho lĩnh vực giảng dạy tiếng Việt ở nước ngoài, từ thực tế trải nghiệm của bản thân tại Pháp và một số nước châu Âu.

Giữ sự cân bằng giữa các yếu tố nghe-nói-đọc-viết tiếng Việt

- Công việc của chị tại Thư viện Quốc gia Pháp chắc chắn không nhàn. Thế nên tôi vẫn chưa hình dung nổi chị đã giải bài toán thời gian trong ngày như thế nào, để có thể duy trì các lớp học tiếng Việt trực tuyến và trực tiếp bên cạnh dành thời gian cho gia đình nhỏ của mình?

- Và còn thời gian dành riêng cho bản thân mình nữa chứ (cười)... Đúng là như năm ngoái, tôi hầu như dành hết thời gian cho công việc tại Thư viện và các lớp học tiếng Việt. Thật may mắn là tôi nhận được sự hậu thuẫn của gia đình.

Bạn biết không, anh xã người Pháp của tôi là người luôn động viên tôi trong việc duy trì tiếng Việt cho các con.

- Tiếng Việt của anh ấy và các con của anh chị thế nào?

- Anh ấy nghe hiểu tiếng Việt tốt hơn là nói, chỉ nói được một số câu, từ đơn giản, dễ phát âm. Người lớn thường khó khăn hơn khi bắt đầu học một ngoại ngữ nào đó, nhất là với người không có năng khiếu ngôn ngữ (cười). Tiếng Việt của hai cháu tạm ổn, tuy ngữ điệu vẫn “lơ lớ”. Thú thật,khi con trai nói với tôi một câu tiếng Việt, tôi cảm thấy thân thương và ấm áp nhiều lắm. Năm nay, cháu sang tuổi 17, dành nhiều tình cảm cho tiếng Việt và văn hóa Việt Nam. Mỗi khi mời bạn bè về nhà, cháu lại chọn làm cơm rang, bánh mì kẹp mời bạn.Trên lớp, có lần làm bài thuyết trình môn khoa học xã hội, cháu đã chọn giới thiệu về quê ngoại Việt Nam. Những điều đó, có thể chẳng là gì to tát, nhưng lại khiến tôi rất vui bởi cảm thấy niềm tự hào chân thật của con về Việt Nam.

- Chia sẻ của chị khiến tôi liên tưởng đến việc nghe hiểu, đọc hiểu, nói và viết được tiếng Việt đối với người học để có thể thấm nhuần ngôn ngữ này. Trong quá trình giảng dạy, chị chú trọng như thế nào tới sự cân bằng giữa các yếu tố nghe-nói đọc-viết tiếng Việt?

- Chính vì mong muốn người học cảm nhận được đầy đủ hơn vẻ đẹp, sự phong phú của ngữ nghĩa tiếng Việt cũng như rộng hơn nữa là về vẻ đẹp văn hóa Việt Nam, tôi luôn cặn kẽ trong việc giảng dạy, giữ cân bằng giữa tất cả các yếu tố trên. Tôi đã học và đạt chứng chỉ Phương pháp giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài tại Khoa Việt Nam học và Tiếng Việt, Trường đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội. Tôi duy trì sinh hoạt chuyên môn trong cộng đồng các giáo viên dạy tiếng Việt cho người nước ngoài tại Thành phố Hồ Chí Minh để cập nhật kỹ năng. Tôi vốn tốt nghiệp cử nhân tiếng Pháp tại Trường đại học Sư phạm ngoại ngữ, Đại học Quốc gia Hà Nội, nhưng sau đó, mải học và làm nghiên cứu; giờ là lúc kỹ năng sư phạm được phát huy.

Đến hiện tại, có một vài học viên người lớn của tôi từ hoàn toàn xa lạ với tiếng Việt đã tới bước đọc hiểu được những bài thơ tiếng Việt có nhiều từ tượng thanh, như “thánh thót” chẳng hạn, khiến tôi rất vui.

img-0602.jpg
Các học trò nhỏ của Tiến sĩ Nguyễn Giáng Hương cùng biểu diễn bài dân ca Trống cơm, trong chương trình văn nghệ vui đón Tết Nguyên đán năm 2026 của cộng đồng người Việt Nam tại Bordeaux, Pháp. Ảnh: NVCC

Mong muốn xoa dịu những nỗi niềm xa xứ

- Những học viên ấy là người nước ngoài hoàn toàn hay người gốc Việt, có một phần dòng máu Việt Nam, thưa chị?

- Họ hoàn toàn là người nước ngoài, nhưng có bạn gái, vợ là người Việt Nam nên muốn học tiếng Việt. Ngoài ra, có cả học viên có bố hoặc mẹ là người Việt.

- Đến nay, Trung tâm dạy tiếng Việt của chị có khoảng bao nhiêu học viên và từ quan sát việc học của họ, chị có thể chia sẻ với bạn đọc của chúng tôi điều khiến chị suy nghĩ nhiều nhất kể từ khi bắt tay vào việc giảng dạy?

- Trung tâm của tôi hiện có hơn 30 học viên. Về ý hỏi thứ hai, tôi muốn kể một vài câu chuyện về tiếng Việt, cội gốc văn hóa với người Việt xa xứ, nó chạm đến trái tim của tôi, có lúc làm tôi day dứt.

Có một chị học viên lớn tuổi là người Việt thế hệ thứ hai, sinh ra và lớn lên ở Pháp. Bố mẹ của chị đều là người Việt và cũng như các gia đình Pháp khác, bố mẹ và các con thường ở riêng khi người con đến tuổi trưởng thành. Nhưng khi về già, bố của chị ấy mắc bệnh Alzheimer và thứ mà ông quên đầu tiên chính là tiếng Pháp. Chị hiểu rằng bố không còn sống được bao lâu, và quyết định tìm đến tôi học tiếng Việt, để nói chuyện được nhiều hơn với bố. Sau khi ông qua đời, chị chia sẻ với tôi: Thời gian được gần bố và tiếng Việt là khoảng thời gian may mắn của chị.

Một học viên khác, trong lần người mẹ đi vắng, chị đến nhà để chăm bố đang mắc bệnh hiểm nghèo, đúng lúc ông bị ngã. Trong lúc sơ cứu, để kiểm tra phản ứng của bố, chị ấy hỏi: “Bố đang ở đâu?”, ông đáp: Việt Nam! Chuyện xảy ra khiến chị ấy thêm quyết tâm học tiếng Việt để có thể nói chuyện nhiều hơn với bố mẹ. Chị ấy kể lại với tôi, mỗi lần nói chuyện bằng tiếng Việt với bố, chị thấy ông phản ứng linh hoạt hơn, cảm nhận được sự xúc động trong thâm tâm của bố mẹ khi trò chuyện với mình…

Tôi đã nghĩ, những bậc phụ huynh người Việt ấy thật may mắn, tuy xa quê hương nhưng có nguồn an ủi ấm áp từ các con và tiếng Việt lúc đau yếu... Thử hình dung, mỗi lúc như vậy, nếu họ muốn nhờ con lấy giúp cốc nước mà nói tiếng Việt, con không hiểu, có lẽ đó là nỗi đau đến thấu xương…

Tôi cảm nhận sâu sắc rằng, người Việt Nam mình, dù mang trọn vẹn hoặc một phần dòng máu Việt Nam nhưng nếu sinh sống ở nước ngoài, vì bất kỳ lý do gì, cũng đều có chung nỗi niềm xa xứ; nó có thể được chuyển hóa thành dạng hình nào đó, rất khó định nghĩa... Nhưng nỗi niềm ấy được xoa dịu ít nhiều khi ở bên cạnh người chung tiếng nói để hàn huyên, chia sẻ. Vì thế, chúng tôi vẫn tìm đến nhau để được cùng nhau nói tiếng Việt.

- Ở Pháp, theo chị biết, số lượng trung tâm dạy tiếng Việt có đăng ký chính thức với chính quyền sở tại như của chị hiện nhiều không?

- Tiếc là không. Việc dạy tiếng Việt ở Pháp nhìn chung vẫn là tự phát, thông qua các hội nhóm của người Việt Nam mình.

Thực tế, số người có mong muốn học tiếng Việt rất lớn và họ học vì nhu cầu thực tiễn cuộc sống chứ không phải học để lấy bằng cấp chính quy. Không ít học viên của tôi ở vùng xa trung tâm, có bạn ở nước khác. Đặc biệt, có học viên rất tha thiết muốn học để đạt chứng chỉ tiếng Việt và về Việt Nam tìm việc làm, gắn bó lâu dài với cội gốc.

Trước thực tế như vậy, tôi vẫn giữ suy nghĩ rằng, bản thân tôi cần nỗ lực hơn nữa để góp phần cải thiện chất lượng giảng dạy tiếng Việt, trước tiên là của cá nhân tôi. Tôi mong muốn tiến tới có thể luyện thi chứng chỉ tiếng Việt cho học viên có nhu cầu và sau đó, họ có thể an tâm về Việt Nam để dự thi. Tôi cũng sẽ cố gắng đào tạo thêm trợ giảng để từng bước, thêm nguồn giảng viên giảng dạy tiếng Việt với đầy đủ phương pháp sư phạm, thay vì chỉ mở lớp theo kiểu tự phát, tùy hứng.

Bạn biết không, để có thể cập nhật phương pháp sư phạm tiếng Việt, bản thân tôi mất rất nhiều thời gian.

Chưa kể, có những sự việc khiến tôi tự hỏi, vì sao lại đẩy chính mình vào hoàn cảnh, nói thế nào nhỉ, thật trớ trêu. Chẳng hạn, chuyện mà cả (mặc cả) học phí đối với các lớp dành cho người lớn, chuyện tôi mở lớp dạy tiếng Việt cho trẻ em hoàn toàn miễn phí, tần suất 2 buổi/tháng mà hồi đầu, không có học viên nào đến... Nhưng tôi đã tự bước ra khỏi vùng an toàn chỉ làm công việc nhà nước, coi mọi diễn biến, dù bất ưng hay vui vẻ, trong quá trình dạy tiếng Việt là trải nghiệm quý giá, để tiếp tục duy trì Trung tâm của mình một cách thật linh hoạt. Các cụ xưa có câu: Lựa nước đẩy thuyền, tôi nên nương theo đó (cười). Tất cả là vì những câu chuyện như tôi đã kể với bạn, và nhất là vì mong muốn có thể giữ tiếng Việt cho các con của mình.

- Chân thành cảm ơn chị!

Có thể bạn quan tâm