Nhà biên kịch Nguyễn Thị Hồng Ngát:

Cần tạo điều kiện để các tác giả dấn thân vào đề tài lớn

Trong câu chuyện dài với chúng tôi, nhà biên kịch Nguyễn Thị Hồng Ngát bày tỏ nhiều trăn trở với kịch bản phim Ông Ké mà bà dành trọn tâm huyết để khắc họa hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh trong những năm tháng đầu tiên trở vềPác Bó (1941-1944).

Nhà biên kịch Nguyễn Thị Hồng Ngát.
Nhà biên kịch Nguyễn Thị Hồng Ngát.

Từ một dự án cụ thể, câu chuyện mở rộng ra nhiều vấn đềlớn hơn: Cách ứng xử với đềtài lịch sử, vai trò của điện ảnh, và cơ chế để đưa tác phẩm nghệ thuật vào đời sống.

Vận dụng yếu tố “đời thường” để xây dựng hình tượng Bác Hồ

- Thưa bà, điều gì đã thôi thúc bà lựa chọn viết kịch bản Ông Ké, một đề tài lớn và nhiều thách thức?

- Tôi không nghĩ mình “lựa chọn”, mà có lẽ là “được gọi tên”. Những người làm nghề lâu năm đều hiểu: Có những đề tài đến với mình như một trách nhiệm. Giai đoạn Bác Hồ ở Pác Bó và trực tiếp lãnh đạo cách mạng trong nước rất đặc biệt song để lại một khoảng trống đáng suy nghĩ, vì hầu như chưa được khai thác trong lĩnh vực phim truyện điện ảnh, truyền hình.

Tôi từng viết về Bác ở tuổi 18 trong phim Nhìn ra biển cả (biên kịch: Nguyễn Thị Hồng Ngát, đạo diễn Vũ Châu, Hãng phim Hội điện ảnh Việt Nam, năm 2010) nên khi được gợi ý viết về Bác ở Pác Bó, tôi hiểu đây là một thử thách lớn hơn nhiều. Đó là giai đoạn vừa mang tính lịch sử quyết định, vừa rất đời thường: Một con người vĩ đại nhưng sống trong hang đá, ăn uống đạm bạc, làm việc trong điều kiện thiếu thốn nhưng lại đưa ra những quyết định có tầm vóc lịch sử.

Thử thách ấy đã thôi thúc tôi làm sao để người xem thấy được trên màn ảnh một Hồ Chí Minh rất gần gũi, rất đời, mà vẫn toát lên tầm vóc vĩ đại. Không phải bằng lời hô hào, mà bằng hình tượng điện ảnh.

- Bà có thể chia sẻ thêm về cách vận dụng yếu tố “đời thường” để xây dựng hình tượng Bác trong nội
dung kịch bản phim
Ông Ké?

- Pác Bó, nơi Bác sống trong hang, làm việc bên suối, giữa non nước Cao Bằng, không có những đại cảnh chiến trận hoành tráng, thay vào đó là nhiều chi tiết: Một bếp lửa, một bữa ăn đạm bạc, một lần rửa mặt bên suối, hay cảnh Bác cùng các đồng chí cán bộ cách mạng trồng rau, giặt giũ… Chính những chi tiết ấy góp phần quan trọng tạo nên chiều sâu của nhân vật.

Tôi muốn dựng lại một không gian mà ở đó, con người Hồ Chí Minh hiện lên chân thật, giản dị, kiên cường, và đặc biệt, luôn suy nghĩ cho vận mệnh dân tộc. Là một “Ông Ké” trong mắt đồng bào, nhưng cũng là người đưa ra những quyết sách làm thay đổi lịch sử. Tại núi rừng Cao Bằng này, “Ông Ké” đã triệu tập cuộc họp Hội nghị Trung ương 8 (tháng 5/1941) để nắm tình hình trong nước và quốc tế, tận dụng thời cơ cho cách mạng Việt Nam; thành lập Mặt trận Việt Minh, lãnh đạo toàn dân chống Pháp; thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam ngày nay, chuyển từ đấu tranh chính trị sang đấu tranh vũ trang.

Điểm mới của bộ phim, nếu có, chính là cách tiếp cận không lý tưởng hóa một chiều, mà để hình tượng tự tỏa sáng từ đời sống.

- Được biết, bà đã dành rất nhiều công sức cho kịch bản này, từ nghiên cứu tư liệu đến khảo sát thực địa, tìm bối cảnh làm phim. Nhưng còn về nguồn tài chính dành cho những việc đó thì được xây dựng và triển khai như thế nào, thưa bà?

- Tôi làm việc theo cách rất “thủ công”: Tự bỏ tiền túi đi thực tế, tìm tài liệu, gặp nhân chứng. Tôi lên Cao Bằng nhiều lần, làm việc với Bảo tàng tỉnh, với các nhà nghiên cứu địa phương, đọc lại rất nhiều tư liệu lịch sử.

Điều quý giá nhất là tôi vẫn còn cơ hội được tiếp nhận nhiều chi tiết sống động do người dân kể lại, những câu chuyện truyền miệng, những không gian còn được giữ gìn gần như nguyên vẹn. Cao Bằng bây giờ vẫn rất đẹp, ở nhiều nơi gần như không thay đổi so với thời Bác về. Điều đó cực kỳ thuận lợi cho
điện ảnh.

Song song với việc viết, tôi cùng ê-kíp đi chọn bối cảnh, vào quê Bác ở Nghệ An tìm diễn viên, đặc biệt là diễn viên đóng vai Bác Hồ, một vai diễn mà bản thân tôi (và có lẽ bất cứ ai) đều thấy là vô cùng khó. Có thể nói, về mặt chuẩn bị sản xuất, chúng tôi đã làm gần như đầy đủ, dù dự án chưa có một đồng kinh phí chính thức để sản xuất.

Làm điện ảnh không chỉ là đam mê. Nó cần một hệ thống hỗ trợ, từ cơ chế đến nguồn lực. Và chính ở khâu này, dự án phim Ông Ké lại gặp nhiều trắc trở. Hiện chúng tôi vẫn đang chờ nhiều thứ khác, bao gồm cả sự ủng hộ của các nhà quản lý và chính quyền địa phương, mới có thể đưa kịch bản phim
vào sản xuất.

8bs.jpg
Suối Lênin với làn nước xanh màu ngọc bích. (Ảnh TTXVN)

Cần cơ chế khuyến khích và đồng hành

- Từ câu chuyện cụ thể của dự án này, bà nhìn nhận thế nào về việc đưa các tác phẩm văn học - nghệ thuật nói chung, điện ảnh nói riêng, vào đời sống hiện nay?

- Điện ảnh là một loại hình đặc biệt. Nó không chỉ kể chuyện, mà còn có khả năng “hiện thực hóa” những gì nằm trong trí tưởng tượng, trong lịch sử, trong ký ức dân tộc. Một bộ phim tốt có thể chạm đến hàng triệu người cùng lúc.

Vấn đề là chúng ta chưa thật sự tận dụng sức mạnh đó. Những đề tài lớn về lịch sử, về lãnh tụ, về những giá trị nền tảng… lại là những đề tài không dễ để “hiện thực hóa” trên phim ảnh, tốn kém về chi phí và cần sự đầu tư nghiêm túc trên mọi phương diện. Nếu chỉ trông chờ vào khu vực tư nhân, sẽ rất khó để khai triển.

Tôi nghĩ cần có một cơ chế khuyến khích thật sự: Không chỉ là kinh phí, mà còn là sự trân trọng, sự đồng hành với nghệ sĩ. Khi một tác giả dấn thân vào đề tài lớn, họ cần được lắng nghe, được góp ý, được Nhà nước và xã hội tạo điều kiện, tin tưởng để hoàn thiện tác phẩm.

Thêm nữa, để đưa tác phẩm vào đời sống, việc hoàn thành một bộ phim mới chỉ là bước đầu. Tiếp sau đó là rất nhiều việc phải làm với hệ thống phát hành, phổ biến, đưa phim ra công chúng trong và ngoài nước. Nếu làm tốt, một bộ phim có thể trở thành một bài học sinh động về lịch sử và đạo đức.

- Là người từng làm quản lý bên cạnh công việc sáng tạo và nay, vẫn tiếp tục sáng tạo, bà có kiến nghị gì để đổi mới phương thức quản lý nhà nước cũng như khai thác, quảng bá đối với các tác phẩm lĩnh vực văn học-nghệ thuật, nhất là điện ảnh?

- Tôi nghĩ, trong bối cảnh mới, để hiện thực hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW
về phát triển văn hóa Việt Nam, thúc đẩy công nghiệp văn hóa phát triển, trước hết là phải thay đổi cách nhìn, tư duy quản lý. Không thể quản lý nghệ thuật theo kiểu hành chính thuần túy hoặc với những quy định, quy trình rập khuôn.

Người làm quản lý cần hiểu rằng, một tác phẩm hay không chỉ đến từ nguồn lực đầu tư, mà còn từ môi trường sáng tạo. Hãy tạo điều kiện cho nghệ sĩ làm việc, thay vì khiến họ bị cuốn vào những thủ tục, giấy tờ, những ràng buộc không
cần thiết.

Thứ hai là sự công tâm và minh bạch. Đánh giá một kịch bản, một dự án phải dựa trên giá trị nghệ thuật và ý nghĩa xã hội của nó, chứ không phải những yếu tố bên ngoài.

Và cuối cùng là sự trân trọng. Người làm nghề không chỉ cần kinh phí, mà cần được ghi nhận, được đối thoại. Chỉ một thái độ cởi mở, một sự lắng nghe cũng có thể tạo ra động lực rất lớn.

- Trân trọng cảm ơn bà về cuộc trò chuyện này!

Có thể bạn quan tâm