Nghị định 41/2010/NÐ-CP về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn và các văn bản có liên quan đã nỗ lực khắc phục tình trạng này thông qua hàng loạt chính sách như cho vay ưu đãi cho nên tăng trưởng tín dụng cho nông nghiệp, nông thôn giai đoạn 2010-2012 lên tới gần 25%, cao hơn hẳn so mức tăng trưởng tín dụng chung. Theo Ngân hàng Nhà nước, đến cuối năm 2013, dư nợ cho vay nông nghiệp, nông thôn khoảng 700 nghìn tỷ đồng, chiếm khoảng 20% tổng tín dụng.
Ðể giải quyết vấn đề vốn cho nông nghiệp, nông thôn và nông dân, bên cạnh những chiến lược, chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn, tái cơ cấu nông nghiệp và cơ cấu lao động,... thì biện pháp trước mắt có thể thực hiện ngay chính là tăng khả năng tiếp cận vốn tín dụng cho khu vực này thông qua xác lập cơ chế thực thi đơn giản và rõ ràng để rút ngắn khoảng cách giữa chính sách với thực tế triển khai. Ðồng thời, cần xây dựng ngay một cơ chế bảo lãnh tín dụng cho nông nghiệp, nông thôn và nông dân thay vì phải cầm cố hay "nộp" giấy sử dụng đất - tài sản gần như duy nhất đáng giá của các hộ nông dân như hiện nay. Bên cạnh đó, cần thực thi chính sách tín dụng lấy hộ nông dân làm trung tâm, cơ cấu lại tín dụng nhằm tạo điều kiện thúc đẩy phát triển sản xuất nông nghiệp quy mô lớn đi đôi với ứng dụng công nghệ cao, xu thế tất yếu của nông nghiệp Việt Nam trong những năm tới.
Một mặt, tiếp tục tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc nhằm tăng cường quy mô tín dụng cho nông nghiệp, nông thôn đi đôi với phối hợp nguồn vốn tín dụng với các nguồn lực tài chính đa dạng khác để tạo bước đột phá trong chuyển đổi mô hình sản xuất nông nghiệp gắn với sản xuất lớn, công nghệ cao, tăng năng suất và hiệu quả của sản xuất nông nghiệp. Mặt khác, cần cơ cấu lại tín dụng cho phù hợp mô hình sản xuất lớn, với những liên kết kinh tế mới, chuỗi liên kết khép kín từ cung cấp đầu vào, sản xuất nông nghiệp đến tiêu thụ sản phẩm gắn với tăng hàm lượng khoa học công nghệ và giá trị gia tăng trong từng khâu của chuỗi giá trị nông sản. Theo đó, tín dụng cho nông nghiệp, nông thôn, cả cơ cấu cũng như chính sách và cơ chế cần thay đổi theo hướng lựa chọn đúng khách hàng cho vay, tỷ lệ cho vay và điều kiện cho vay (thế chấp, bảo lãnh tín dụng, lãi suất, thời hạn, mức độ ưu đãi) tương ứng phù hợp từng đối tượng trong mô hình sản xuất lớn và chuỗi liên kết sản xuất nông nghiệp.
Chính sách tín dụng nông nghiệp, nông thôn phải góp phần củng cố và thắt chặt mối quan hệ ràng buộc liên kết giữa các nhà trong chuỗi liên kết đồng thời góp phần phân bổ lợi ích hài hòa giữa các khâu trong chuỗi giá trị nông sản, chú trọng bảo đảm lợi ích của nông dân, giúp họ ổn định và tăng thu nhập dựa trên tăng năng suất và giá trị sản xuất nông nghiệp.