Thanh Chương Xô-viết

Xô-viết Nghệ Tĩnh đã diễn ra nhu thế nào?

Khi phương Tây đã bắt đầu bước vào chủ nghĩa tư bản phát triển thì nước ta vẫn còn là một nước phong kiến lạc hậu. Hơn hẳn sức mạnh một thời đại, dưới ách nô lệ của thực dân Pháp, nhiều cuộc khởi nghĩa nông dân dưới sự lãnh đạo của các sĩ phu phong kiến đã bị dìm trong bể máu.

Từ sau chiến tranh thế giới thứ nhất, để bù đắp thiệt hại, thực dân Pháp ra sức khai thác Đông Dương. Khủng hoảng kinh tế của chủ nghĩa tư bản năm 1929-1933 càng kiến cho thực dân thẳng tay bóc lột, vơ vét thuộc địa.

Năm 1930, tư bản Pháp đã cướp một triệu ha ruộng đất của nông dân để làm đồn điền. Công nhân bị bóc lột thậm tệ: ngày làm việc 18 tiếng, thợ giỏi được trả 4 hào/ngày; Ở Trung Kỳ chỉ được 3 xu/ngày.

Năm 1917, thực dân Pháp nhận thấy: “Bến Thủy có đầy đủ đường giao thông các mặt và tất cả đều nhóm về cảng. Hai tỉnh quan trọng này có trên một triệu rưỡi dân cùng ở tập trung xung quanh đây. Ngoài ra, hai tỉnh xứ Lào là Khăm Muộn và Trấn Ninh cũng dùng cảng Bến Thủy làm nơi giao xuất hàng hóa”. Vinh, Bến Thủy trở thành một trung tâm công nghiệp lớn, có hàng chục nhà máy. Cũng có nghĩa là nhân dân vùng này chịu bóc lột một cách tàn tệ nhất.

Không những thế vào những năm này, Nghệ Tĩnh chịu cảnh thiên tai, mất mùa, đói kém liên miên. Thực dân Pháp độc quyền kinh doanh về rượu, muối, thuốc phiện, thuốc lào, đặt ra thuế thân, đưa thuế hạng ba lên hạng hai (nhất tam quy nhị)... Cuộc sống của công nhân, nông dân bị đẩy tới cùng cực, đúng như trong Bài ca cách mạng của đồng chí Đặng Khánh Kỳ, Bí thư Huyện ủy Nam Đàn, đã tố cáo:

Hỡi anh chị em lao khổ
Nông nỗi này ai tỏ chăng ai
Đã hơn sáu chục năm rồi
Làm thân trâu ngựa cho loài khuyển dương
Miệng bảo hộ mà tay bóc lột
Mặt nhân từ mà ruột hiểm sâu
Rày sưu mai thuế trưng cầu
Cầm con, cầm vợ, bán trâu, bán bò…
Rượu ta nấu nó cho rượu lậu
Muối ta làm nó bảo muối gian
Lại thêm những kẻ hung tàn
Cảnh binh hiếp chúng, phu đoàn hiếp dân…

Cho đến lúc này, phong trào chống Pháp ở Nghệ Tĩnh chưa lúc nào ngừng nghỉ. Còn nóng hổi là khởi nghĩa Phan Đình Phùng, phong trào Đông Du, phong trào chống thuế, tiếng bom Sa Điện của Phạm Hồng Thái…

Cuối năm 1929 ở Nghệ Tĩnh đã thành lập Đông Dương Cộng sản Liên đoàn, sau này hợp nhất vào Đảng Cộng sản Việt Nam (3-2-1930). Vào năm 1930, vùng Nghệ Tĩnh có ba tỉnh Đảng bộ: Tỉnh bộ Vinh do đồng chí Lê Mao làm Bí thư; Tỉnh bộ Nghệ An do đồng chí Nguyễn Biểu làm Bí thư; Tỉnh bộ Hà Tĩnh do đồng chí Trần Hữu Thiều làm Bí thư, với 17 Đảng bộ huyện, 1172 đảng viên, chiếm 89% tổng số đảng viên ở Trung Kỳ.

Tinh thần Cách mạng Tháng Mười Nga và sự lãnh đạo của Đảng đã thấm sâu trong lòng mỗi người Nghệ Tĩnh là một nguyên nhân chủ yếu diễn ra phong trào Xô-viết Nghệ Tĩnh.

Sự đàn áp dã man những người dân yêu nước là nguyên nhân trực tiếp của phong trào.

Ngày 29-7-1929, tòa án Nam Triều kết án tử hình bảy người, trong đó có Nguyễn Ái Quốc.

Ngày 13-3-1930, thực dân Pháp xử chém Phan Hoàng Thân, Nguyễn Đừu (quê Anh Sơn) – hai cán bộ của Tổng Nông hội Nghệ An.

Ngày 18-3-1930, Phân cục Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam rải truyền đơn, phát động phong trào đấu tranh đòi quyền dân sinh, dân chủ với các khẩu hiệu thiết thực.

Tháng 4-1930, Đảng ta phát động phong trào kỷ niệm Ngày Quốc tế Lao động 1-5 trong cả nước.

Rạng sáng ngày 1-5-1930, cờ đỏ đã bay phấp phới trước cổng của Toà sứ Thị xã Hà Tĩnh và nhiều nơi khác. Tại Can Lộc, Thạch Hà có mít-tinh, diễn thuyết thu hút hàng nghìn người.

Cũng ngày 1-5-1930, dưới sự lãnh đạo trực tiếp của đồng chí Lê Mao, lực lượng công nông thành phố Vinh và nông dân huyện Nghi Xuân (Hà Tĩnh) đã tổ chức cuộc biểu tình lớn tại Bến Thủy. Lại thêm 2000 nông dân của các huyện Hưng Nguyên, Nghi Lộc kéo về. Đoàn biểu tình không trang bị vũ khí, chỉ giương cao cờ đỏ búa liềm, hát vang Quốc tế ca và hô to khẩu hiệu đấu tranh. Tên công sứ Vinh đã huy động binh lính đến, đàn áp cuộc biểu tình. Báo Người lao khổ, cơ quan của Xứ ủy Trung Kỳ số ra ngày 2-5-1930 đã tường thuật cuộc xung đột này như sau: “Tiếng hô vang trời của anh em, chị em làm cho đế quốc tư bản kinh hồn. Thằng giám binh chĩa súng bắn vào anh em, chị em. Một người chạy lại tát thằng giám binh, giật lấy súng trường, đập gãy. Thằng giám binh lấy súng lục bắn và bắt anh em binh lính cùng bắn… Thằng giám binh, thằng chánh cảnh sát, thằng mật thám (Rô-be) đều chĩa súng bắn liên thanh. Lại cả thằng Ca-la-bi cũng đứng trong nhà máy bắn ra. Thế là quân đế quốc và quân tư sản thẳng tay giết anh em dân cày và thợ thuyền… Cuộc biểu tình phải giải tán để lại 6 người chết và 18 người bị thương… Lần đầu trong lịch sử cách mạng xứ ta, công nông binh bắt tay nhau giữa trận tiền”.

Cùng ngày, 3000 nông dân Thanh Chương biểu tình tại Hạnh Lâm đòi ruộng đất mà tên địa chủ Nguyễn Tường Viễn (Ký Viễn) đã cướp đoạt; đốt cả dinh cơ của y; khói lửa ngút trời, Ký Viễn khiếp sợ bỏ trốn.

Ngày 1-5-1930 là mốc mở đầu không những của cao trào Xô viết Nghệ Tĩnh mà là mở đầu cho phong trào đấu tranh của toàn dân, nền tảng là liên minh công nông dưới sự lãnh đạo của giai cấp vô sản. Đồng chí Hồng Thế Kông, tức Hà Huy Tập, hồi đó đã viết: “Đứng về cả nước mà xét, ngày 1-5-1930 có ý nghĩa rất quan trọng vì đây là lần đầu tiên vô sản Đông Dương xông pha lửa đạn để biểu dương tình đoàn kết cách mạng quốc tế của mình.”

Thanh Chương trong Xô-viết Nghệ Tĩnh

Thanh Chương (Nghệ An) và Can Lộc (Hà Tĩnh) là những nơi khởi đầu và có phong trào mạnh mẽ nhất, kéo dài nhất trong Xô-viết Nghệ Tĩnh.

Ngày 12-9 được lấy làm Ngày Truyền thống Xô -viết. Ngày đó có 8000 nông dân thuộc ba tổng Phù Long ,Thông Lạng (Hưng Nguyên) và Kim Nam (Nam Đàn) xếp hàng tư dài hơn 3km, giương cao cờ đỏ búa liềm, có các đội Xích vệ đi theo yểm hộ tiến về phủ lỵ Hưng Nguyên. Nữ đồng chí Phia, tức Nguyễn Thị Quỳnh Nga, đã có một bài diễn thuyết hùng hồn, tố cáo bọn thực dân phong kiến, kêu gọi đồng bào đi theo Đảng Cộng sản để lật đổ ách thống trị của chúng. Đoàn biểu tình kéo dài đến Thái Lão (nơi xây dựng tượng đài kỷ niệm Xô-viết Nghệ Tĩnh ngày nay) thì bị hai máy bay Pháp dội bom, đồng thời lính Pháp cũng ùa tới đàn áp. 215 người chết tại chỗ, 125 người khác bị thương. Đây là một ngày đau thương, thảm khốc nhất. Nhưng đạn bom không làm chùn bước người dân kiên cường nơi đây. Kể từ đó cho đến tháng 10-1931, hàng trăm cuộc biểu tình thị uy, lật đổ chính quyền thực dân - phong kiến đã diễn ra trong cả hai tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh. Cả nước, đi đầu là Thái Bình, dấy lên phong trào ủng hộ Xô-viết.

Đó là ngày anh dũng nhưng cũng là ngày đau thương.

Với từng huyện, lại có một ngày có ý nghĩa. Ở Nam Đàn, ngày 31-8, cuộc biểu tình của 3000 nông dân dưới sự lãnh đạo của Huyện ủy đã tràn về huyện lỵ phá trại giam giải thoát tù nhân, phá ty rượu của Pháp, đòi tri huyện giải quyết yêu sách của nhân dân. Tri huyện Nam Đàn là Lê Khắc Tưởng phải ký tên, đóng dấu vào bản yêu sách, trong đó có lời cam đoan: “Nam Đàn tri huyện  quan, huyện quan tự tư dĩ hậu, bất đắc nhũng nhiễu nhân dân” (Tri huyện Nam Đàn xin từ nay về sau không nhũng nhiễu dân).

Quy mô lớn nhất của Xô-viết Nghệ Tĩnh là cuộc biểu tình của hơn 20 nghìn nông dân huyện Thanh Chương vào ngày 1-9-1930. Cái tên làng Võ Liệt, tên huyện Thanh Chương trở nên sáng mãi từ cuộc biểu tình này. Tri huyện Phan Sĩ Bàng bị đuổi chạy. Chính quyền về tay nhân dân. Báo Người lao khổ, số đặc biệt ra ngày 6-9-1930 viết: “Ở Thanh Chương và Nam Đàn, không ai đi tuần, lính không về canh gác. Đế quốc chủ nghĩa bắt triệt hạ không ai thi hành. Anh em (…), tự chia cho dân cày nghèo đồn điền Ký Viễn và đất ruộng của giai cấp địa chủ. Anh em cứ tự do lập hội, tự do biểu tình. Thế là luật lệ đế quốc bị tan tành”…

Nổi bật nhất trong Xô-viết Nghệ Tĩnh năm 1930-1931 là phong trào đấu tranh của nông dân hai huyện Thanh Chương (Nghệ An) và Can Lộc (Hà Tĩnh). Tại các huyện Thanh Chương, Nam Đàn, Hưng Nguyên, Nghi Lộc, Anh Sơn, Can Lộc, Thạch Hà đã lập nên chính quyền Xô-viết, tịch thu 5.599 mẫu ruộng chia cho dân cày, trong đó phụ nữ cũng được phần. Tự vệ Đỏ (Xích vệ) có 9.050 đội viên, riêng Can Lộc có thêm 322 đội viên tự vệ cảm tử để bảo vệ nhân dân, bảo vệ chính quyền Xô-viết.

Báo Opinion của Thực dân Pháp ở Sài Gòn thừa nhận: “Ở thôn quê Bắc Trung Kỳ, Xô-viết đã tổ chức chính quyền hành chính của họ”.

Trong lịch sử cách mạng thế giới đã có nhiều hình thức Xô-viết như:công xã Pa-ri (3-1871), Công xã Quảng Châu (1927), Xô-viết Nga (1905), Xô-viết Ba-vi-e (Đức, 1919)… Công xã Pa-ri tồn tại được 72 ngày.

Hơn cả Công xã Pa-ri đối với cách mạng Pháp, hơn cả công xã Quảng Châu đối với cách mạng Trung Quốc, Xô-viết Nghệ Tĩnh có tầm quan trọng đặc biệt đối với cách mạng Việt Nam. Nó là cuộc tập dượt vĩ đại, tạo đà cho thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám sau này. Nó đặt ra vấn đề liên minh công nông, vấn đề ruộng đất và dân cày, vai trò lãnh đạo của Đảng, vấn đề đấu tranh chính trị kết hợp với đấu tranh vũ trang, vấn đề giành chính quyền và bảo vệ chính quyền…

Báo Vô sản (Pháp) ngay từ tháng 10-1931 đã đánh giá: “Cuộc vận động này là một bước lớn trong cuộc phản đế và điền thổ, có ảnh hưởng to lớn trong lịch sử giải phóng Đông Dương”.

Thanh Chương hôm nay trong tinh thần Xô-viết

Thanh Chương trong lịch sử nổi tiếng là huyện có truyền thống yêu nước, hiếu học. Trong các cuộc kháng chiến giữ nước vĩ đại gần đây, hàng nghìn thành niên đã lên đường chiến đấu. Thanh Chương là huyện có các đối tượng chính sách nhiều nhất của tỉnh Nghệ An. Huyện và 11 xã trong huyện được Nhà nước tặng thưởng danh hiệu cao quý Đơn vị Anh hùng Lực lượng vũ trang Nhân dân.

Miền quê hiếu học đã sinh ra nhiều danh tướng, lương thần, nhiều nhà khoa học, nhiều nhà văn hóa, nhiều doanh nhân nổi tiếng. Dù đi đâu, làm gì, họ vẫn hướng về cội nguồn với những tình cảm đặc biệt. Những năm gần đây mỗi năm có trên 1.200 em vào các trường đại học, cao đẳng. Trong năm năm gần đây, chỉ tính riêng số tiền con em gửi về qua ngân hàng và bưu điện, mỗi năm có 150-200 tỷ đồng. Họ đã tự nguyện gửi gần một tỷ đồng về trùng tu đền Bạch Mã. Nhiều doanh nhân như Nguyễn Minh Hồng, Võ Văn Hồng, Nguyễn Cảnh Sơn,… đã giúp quê hương nhiều công trình trị giá hàng tỷ đồng.

Bước vào công cuộc đổi mới, Thanh Chương đã và đang đi lên vững chắc. Chưa phải giàu, nhưng đã phá đi cái tứ tắc của giao thông và đang vượt lên chính mình, phá đi cái tứ tắc của tư duy và hành động.

Nói về “truyền thống” nghèo khổ của Thanh Chương, người ta nhớ đến “thịt cá hương hoa, nhút cà gia bản” , nhớ đến cái “tứ tắc” của giao thông, một người thuộc thế hệ U50 kể rành mạch về 36 con đường đi lênh đênh, về những con đường “chảy nước mắt”: “Ví như vùng Cát Ngạn 1 thì ai cũng nhớ một thời qua cầu Ma Ca từ chợ Chùa lên Thanh Nho. Giáo viên đi mua lương thực về phải tăng bo hai ba chuyến là gạo, khoai, xe đạp trên chiếc cầu vắt vẻo, người yếu bóng vía phải lội, nhờ người khác vác đồ qua hoặc bò bốn chân qua cầu. Vùng Cát Ngạn 2 ai cũng ngán khi qua cầu Khe Chẹt, cầu Bến Quan – Thanh Mỹ. Bên hữu ngạn sông Lam, các cháu thiếu nhi hay chạy qua đường ô tô vì ít khi có xe chạy qua. Mỗi ngày chỉ có vài ba chuyến phà Dùng, phà Rộ, có phà mới có ô tô qua. Với lại cầu Chùa, cầu Gia Hang và bao nhiêu cầu vùng hữu ngạn cũng có phải là cầu dành cho xe ô tô đâu! Đường 533 từ Cát Văn xuống Thanh Lâm, qua Nam Đàn, Hà Tĩnh vào mùa mưa có những năm cao điểm, nhiều đoạn không hơn gì đi dưới ruộng! Đã có dịp tết chưa xa, tại chợ Chùa, đường bùn nhão nhoẹt quá gối, ai đó thật hài hước, đem mấy cây dọc mùng cấy giữa đường quan”.

Ngoài cái “tứ tắc” của địa lý, gay go nhất là tứ tắc của tư duy. Bao nhiêu năm trăn trở với cây gì, con gì, đổi thay bao nhiêu lượt cây và con mà con người thì vẫn khổ. Bây giờ, sau Đổi mới hơn 20 năm, Thanh Chương đã được Nhà nước, được tỉnh đầu tư lớn, đã tạo tiền đề cho Thanh Chương có cái nhìn xa rộng, một đường băng để cất cánh.

Tính đến tháng 8 năm 2010, hạ tầng kỹ thuật của huyện đã được nâng lên vượt bậc. Nổi bật nhất vẫn là giao thông. Năm 1996, cả huyện mới có 800km đường 46, nhiều con đường ngang, đường liên xã, huyện đã có hơn 450km đường nhựa. Đặc biệt, Thanh Chương đã huy động nội lực, tranh thủ cơ chế hỗ trợ của tỉnh, xây dụng trên 600km đường xi măng. Một số cầu quan trọng, nhất là cầu Dùng, cầu Rộ, các cầu trên tuyến đường Hồ Chí Minh đã được xây dựng, tạo điều kiện quan trọng để phát triển.

Không phải lo thiếu lương thực là một khát vọng ngàn đời. Năm 1995, cả huyện phấn đấu để đạt được 52.000 tần lương thực quy thóc. Những năm gần đây, sản lượng lương thực chỉ tính lúa và ngô ổn định trên 100.000 tấn....Huyện được giao nhiệm vụ tiếp nhận hơn 10.000 bà con các dân tộc thiểu số Tương Dương về tái định cư. Thanh Chương coi họ là bà con ruột thịt, lặng lẽ, nhẫn nại, kiên trì chia sẻ những khó khăn của buổi ban đầu.

Đang còn nhiều khó khăn, hạn chế nhưng đã hé mở những thời cơ. Cửa khẩu Thanh Thủy, nơi mở mang sự giao thương với Lào, Đông Bắc Thái lan sẽ tạo ra đột phá cho sự phát triển của huyện. Những năm đổi mới đã tạo ra sự kết cấu hạ tầng khá đồng bộ đang phát huy tác dụng; nhiều sản phẩm từ nông, lâm nghiệp, làng nghề đem lại nguồn lợi đáng kể để người dân thoát nghèo.

Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ 29 đặt mục tiêu hàng đầu là xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền gắn bó máu thịt với nhân dân. Người đảng viên phải tìm lại và phát huy vai trò tiên phong gương mẫu của mình. Rồi chuyện phấn đấu đến 2015 có mỗi ha ruộng đất đạt giá trị 50 triệu đồng, xây dựng các khu kinh tế và dân cư tập trung theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chuyện phát huy thế mạnh về giáo dục… Thấm lắm rồi, nhất trí lắm rồi.

Kế thừa các thế hệ đi trước, kiên trì, bền chí, có phần lặng lẽ nhưng rất quyết tâm vẫn là nguồn lực nội sinh, căn bản, quyết định cho sự phát triển bền vững, đó là tiềm lực con người!

80 năm trọn niềm tin với Đảng, Đảng bộ và nhân dân Thanh Chương đang vững bước đi lên./.

Nguyễn Sĩ Đại và Đặng Anh Dũng

Có thể bạn quan tâm