PGS, TS Hoàng Minh Sơn, Bộ trưởng Giáo dục và Đào tạo: Mở rộng cơ hội tiếp cận giáo dục chất lượng và công bằng
Một trong những mục tiêu mang tính đột phá của giáo dục Việt Nam giai đoạn tới là “mở rộng cơ hội tiếp cận giáo dục chất lượng và công bằng cho mọi người”. Đi học không chỉ là nhu cầu, mà phải được khẳng định là quyền cơ bản của mỗi người dân; mỗi học sinh đều có quyền tự do lựa chọn con đường học tập và phát triển năng lực bản thân. Luật Giáo dục (sửa đổi) đã quy định giáo dục tiểu học và trung học cơ sở là giáo dục bắt buộc và chúng ta đang tập trung nguồn lực để tiến tới phổ cập giáo dục trung học trong thời gian tới.
Những căng thẳng trong tuyển sinh đầu cấp, nhất là tuyển sinh lớp 10 hay vấn đề dạy thêm, học thêm chỉ là hiện tượng “phần ngọn” xuất phát từ sự chênh lệch cung-cầu và tư duy quản lý cũ. Giải pháp căn cơ chính là xây dựng đủ trường, đủ lớp, trang bị đầy đủ cơ sở vật chất và bảo đảm đủ đội ngũ giáo viên đạt chuẩn. Khi hạ tầng giáo dục đáp ứng đủ nhu cầu, các kỳ thi sẽ không còn là cuộc đua tranh loại trừ, mà thực hiện đúng vai trò là công cụ đánh giá mức độ đạt chuẩn kiến thức và năng lực của người học. Học sinh hoàn toàn có thể được xét tuyển vào lớp 10 theo địa bàn cư trú, tương tự như cấp tiểu học và trung học cơ sở.
Ngân sách nhà nước giữ vai trò chủ yếu trong thực hiện mục tiêu này, đặc biệt ưu tiên hỗ trợ các khu vực khó khăn, vùng sâu, vùng xa và các đối tượng yếu thế. Đồng thời, ngành giáo dục đang đẩy mạnh xây dựng nền tảng giáo dục thông minh quốc gia và ứng dụng AI có kiểm soát để phát triển hệ sinh thái học tập suốt đời, giúp mọi người dân dễ dàng truy cập và học tập linh hoạt với chi phí thấp nhất.
Ông Nguyễn Tiến Thanh, Chủ tịch Hội đồng thành viên, Tổng Giám đốc Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam: Chú trọng cơ chế bảo đảm chất lượng và lộ trình miễn phí sách giáo khoa
Năm học 2026-2027 là năm đầu tiên cả nước thống nhất sử dụng một bộ sách giáo khoa (SGK), đặt ra yêu cầu cao về tiến độ, chất lượng và khả năng đáp ứng đồng bộ trên phạm vi toàn quốc. Nhiệm vụ trọng tâm của Nhà xuất bản Giáo dục là bảo đảm cung ứng SGK đúng, đủ, kịp thời, đồng thời giữ vững chất lượng và giảm chi phí cho người học. Để thực hiện mục tiêu này, chúng tôi đã chủ động xây dựng nhiều kịch bản từ sớm, triển khai quy trình đấu thầu, in ấn kéo dài tới 190 ngày và hoàn thành gần như toàn bộ khối lượng sách trước thời điểm năm học mới bắt đầu. Cùng với đó, việc tối ưu hóa các khâu sản xuất giúp giá bìa SGK giảm trung bình hơn 13%, góp phần giảm gánh nặng chi phí cho các gia đình.
Việc chỉnh sửa nội dung SGK theo thay đổi địa giới hành chính cũng được thực hiện theo quy trình nghiêm ngặt, nhiều đầu sách phải biên soạn lại với tỷ lệ chỉnh sửa lớn và được Hội đồng thẩm định quốc gia thẩm định trước khi phát hành. Dù khối lượng công việc rất lớn, đơn vị vẫn bảo đảm tiến độ để học sinh trên cả nước được tiếp cận bộ sách thống nhất trước năm học mới.
Đối với chủ trương miễn phí SGK, phải khẳng định đây là chính sách đúng đắn, hướng tới mục tiêu công bằng trong giáo dục theo lộ trình từ năm học 2029-2030. Tuy nhiên, việc triển khai cần có sự chuẩn bị đồng bộ về hành lang pháp lý, dự báo nhu cầu, đấu thầu và mua sắm để tránh lãng phí, thiếu công bằng hoặc thừa, thiếu sách cục bộ. Theo đó, sách miễn phí được tổ chức theo hình thức thư viện cho học sinh mượn, thay vì cấp phát để sở hữu, nhằm sử dụng hiệu quả nguồn lực ngân sách.
Nhằm thu hẹp khoảng cách vùng miền trong tiếp cận giáo dục, Nhà xuất bản Giáo dục tiếp tục duy trì các chương trình hỗ trợ xã hội, đã trao tặng 3,7 triệu bản sách cho học sinh vùng khó khăn, đồng thời dự phòng thêm 13 triệu bản để kịp thời bổ sung cho các địa phương chịu ảnh hưởng của thiên tai, bão lũ. Cùng với việc miễn phí phiên bản số của SGK trên nền tảng trực tuyến, những giải pháp này góp phần tạo điều kiện để học sinh từ vùng sâu, vùng xa đến đô thị được tiếp cận nguồn học liệu thống nhất, từng bước bảo đảm bình đẳng về điều kiện học tập trên phạm vi cả nước.
Nhà giáo Lê Hằng, Giám đốc Trung tâm Giáo dục thường xuyên tỉnh Thái Nguyên: Thúc đẩy mục tiêu xã hội học tập
Là đơn vị trực tiếp thụ hưởng và triển khai các chính sách đổi mới của ngành, chúng tôi nhận thức rõ vai trò cốt lõi của hệ thống Giáo dục thường xuyên (GDTX) và dạy nghề trong việc thực hiện mục tiêu xây dựng xã hội học tập và bảo đảm tiếp cận công bằng trong giáo dục. Đối với các tỉnh miền núi như Thái Nguyên, hệ thống GDTX không chỉ là nơi học văn hóa đơn thuần mà còn là “cánh cửa thứ hai” rộng mở, mang lại cơ hội học tập bình đẳng cho nhiều nhóm đối tượng yếu thế, thanh thiếu niên vùng khó khăn, người lao động có nhu cầu hoàn thiện tri thức và kỹ năng nghề nghiệp.
Thực tiễn cho thấy, công bằng trong giáo dục không có nghĩa là mọi người học chung một lộ trình cứng nhắc, mà là ai cũng có cơ hội tiếp cận mô hình học tập phù hợp nhất với điều kiện và năng lực cá nhân. Việc đẩy mạnh phân luồng sau THCS gắn liền với mô hình tích hợp vừa học văn hóa vừa học nghề tại các trung tâm GDTX, trung tâm Giáo dục nghề nghiệp-GDTX đang phát huy hiệu quả rõ rệt. Người học ra trường không chỉ hoàn thành chương trình GDTX cấp THPT mà còn có ngay kỹ năng nghề, mở rộng cơ hội học tiếp hoặc nhanh chóng tham gia vào thị trường lao động, giảm chi phí cho gia đình và góp phần phát triển kinh tế địa phương.
Tuy nhiên, để hệ thống GDTX thật sự trở thành trụ cột thúc đẩy xã hội học tập và học tập suốt đời, chúng tôi rất mong muốn các chính sách mới của Đảng và Nhà nước tiếp tục giải quyết đồng bộ các “điểm nghẽn”: Cần tiếp tục tăng cường cơ sở vật chất, xóa bỏ khoảng cách về hạ tầng số và kỹ năng số ở các vùng miền. Việc triển khai học liệu số, thư viện số và lớp học thông minh tại các cơ sở GDTX sẽ tạo điều kiện cho người học ở vùng sâu, vùng xa tiếp cận tri thức chất lượng cao với chi phí tối ưu. Sớm có cơ chế thu hút, bồi dưỡng nhà giáo đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số và đổi mới chương trình. Tháo gỡ định kiến xã hội, bảo đảm quyền lợi tiếp cận các nguồn học bổng và cơ hội phát triển bình đẳng như hệ thống phổ thông đại trà.
Sự quan tâm đồng bộ từ cơ chế quản trị, nguồn lực đến tinh thần “không để ai bị bỏ lại phía sau” sẽ giúp hệ thống GDTX, dạy nghề phát huy tối đa sức mạnh, biến cơ hội học tập thành chất lượng phát triển thực chất cho mỗi cá nhân và cộng đồng.
Ông Nguyễn Tân, Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo thành phố Huế: Sẵn sàng cho năm học mới
Bước vào năm học 2026-2027, ngành Giáo dục và Đào tạo thành phố Huế đã chủ động triển khai kịp thời các chủ trương lớn của Trung ương, tạo nền tảng vững chắc và động lực phát triển mới. Thực hiện phương án sắp xếp lại các cơ sở giáo dục, tính đến ngày 15/8, toàn thành phố còn 256 trường mầm non và phổ thông thuộc các xã, phường (giảm 246 trường, tương đương 49,2%). Đội ngũ 803 cán bộ quản lý cùng lực lượng giáo viên, nhân viên các trường mầm non, phổ thông thuộc các xã, phường sau sắp xếp được rà soát, bố trí hợp lý theo quy định, vừa tối ưu hóa nguồn lực, vừa bảo đảm không làm gián đoạn các hoạt động chuyên môn. Song song đó, hai trường nội trú xã biên giới trên đất liền tại xã A Lưới 3 và A Lưới 4 - nằm trong số 100 trường theo Kết luận 81 của Bộ Chính trị - đã hoàn thành đúng tiến độ trước khai giảng 5/9. Ngành tập trung tập huấn toàn bộ quy trình vận hành từ chuyên môn đến bán trú, nội trú để đón học sinh tựu trường ngày 25/8.
Ý nghĩa của lần sắp xếp này không đơn thuần là giảm số lượng trường hay giảm đầu mối, mà là tổ chức lại không gian giáo dục để nguồn lực được tập trung hơn cho người học. Đây là bước chuyển từ tư duy “quản lý có bao nhiêu trường” sang “quản trị để mỗi học sinh được hưởng chất lượng giáo dục tốt hơn”. Thành phố Huế xác định sau sắp xếp sẽ tiếp tục theo dõi, đánh giá thực tế để điều chỉnh những vấn đề phát sinh, với mục tiêu giảm đầu mối nhưng không giảm cơ hội học tập; tinh gọn bộ máy nhưng phải tăng chất lượng; tiết kiệm nguồn lực nhưng phải tăng đầu tư trực tiếp cho người học.
Đặc biệt, chính sách miễn phí sách giáo khoa được triển khai mạnh mẽ với tổng kinh phí 52,8 tỷ đồng, trong đó riêng năm học 2026-2027 chi 33 tỷ đồng (28 tỷ cho sách giáo khoa, 5 tỷ cho tài liệu địa phương). Công tác đấu thầu hoàn tất sớm, bảo đảm đưa sách về các nhà trường trước ngày khai giảng. Những bước chuẩn bị toàn diện này không chỉ khẳng định sự chủ động của ngành mà còn mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc: bảo đảm quyền tiếp cận giáo dục công bằng, bình đẳng cho mọi học sinh, đặc biệt là trẻ em vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, giúp các em có điều kiện học tập tốt nhất ngay từ đầu năm học mới.