Đổi mới tư duy, nâng cao năng lực cạnh tranh
Tính đến tháng 9/2025, cả nước có 843 doanh nghiệp đang có vốn nhà nước, trong đó 687 đơn vị do Nhà nước giữ chi phối (sở hữu hơn 50%). Khu vực kinh tế nhà nước (KTNN) giữ thị phần chi phối ở nhiều lĩnh vực then chốt như năng lượng, viễn thông, ngân hàng…, đóng góp khoảng 29% GDP, tiếp tục là trụ cột trong ổn định kinh tế vĩ mô và dẫn dắt các ngành nền tảng của nền kinh tế. Song, quy mô lớn chưa đồng nghĩa với năng lực cạnh tranh tương xứng.
Những hạn chế kéo dài về quản trị doanh nghiệp, kỷ luật đầu tư và bất cập thể chế vẫn là lực cản lớn đối với quá trình đổi mới và phát triển bền vững.
Trước những yêu cầu mới đặt ra từ thực tiễn phát triển, đổi mới tư duy và nâng cao năng lực cạnh tranh trở thành đòi hỏi cấp thiết, ngày 6/1/2026, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 79-NQ/TW về phát triển kinh tế nhà nước. Đây không chỉ là sự khẳng định rõ nét về vị trí, vai trò nòng cốt của khu vực này trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, mà còn tạo cơ sở chính trị quan trọng cho việc đổi mới tư duy, hoàn thiện thể chế và nâng cao hiệu quả của KTNN, nhất là hiệu quả hoạt động của DNNN trong giai đoạn phát triển mới. Cùng với đó, thúc đẩy tái cơ cấu thực chất các DNNN còn tiềm năng, xử lý dứt điểm những tồn tại kéo dài là điều kiện quan trọng nhằm tránh lãng phí nguồn lực và mở ra dư địa phát triển mới.
Nhân Dân hằng tháng thực hiện tiêu điểm này nhằm nhìn thẳng vào các điểm nghẽn, thúc đẩy những giải pháp căn cơ để KTNN nói chung và DNNN nói riêng thật sự nâng cao năng lực cạnh tranh và phát huy vai trò dẫn dắt nền kinh tế tương xứng với vị thế và tiềm lực.
Chiếm lĩnh “cao điểm chiến lược”
và những nghịch lý vận hành
Sau 40 năm Đổi mới, kinh tế nhà nước (KTNN) vẫn nắm trong tay nguồn lực lớn, giữ vai trò trụ cột trong ổn định vĩ mô và các lĩnh vực then chốt của nền kinh tế, chiếm lĩnh những “cao điểm chiến lược” có ý nghĩa quyết định đối với an ninh và phát triển quốc gia. Nhưng phía sau những con số về GDP, tài sản và thị phần chi phối là một nghịch lý kéo dài: hiệu quả, năng suất và năng lực cạnh tranh chưa tương xứng với tiềm lực.
Trụ cột được đo bằng quy mô và vị thế
Phòng điều hành trung tâm của Công ty TNHH MTV Vận hành hệ thống điện và thị trường điện Quốc gia (NSMO), tiền thân là Trung tâm Điều độ Hệ thống điện quốc gia - A0, nơi được ví như “trái tim” điều phối dòng điện cho hơn 100 triệu dân, có lẽ đã 30 năm nay, kể từ ngày thành lập, chẳng mấy khi thiếu vắng ánh đèn. Không có khái niệm ngày nghỉ, lễ Tết hay giao thừa - hệ thống điện quốc gia không cho phép một khoảnh khắc lơ là.
Trong không gian đặc quánh sự tập trung, những mệnh lệnh ngắn, dứt khoát vang lên liên tục: “Hòa Bình, phát tối đa công suất tổ máy 6” , “Điện áp cao, Trị An hút vô công ngay”… Đó là khẩu lệnh điều hành tối thượng, buộc phải thi hành ngay lập tức, không tranh luận, không chậm trễ. Chỉ cần một thao tác đóng cắt sai, một quyết định huy động nguồn điện chậm vài phút, hệ quả có thể là mất điện cục bộ, thậm chí rã lưới trên diện rộng. Và cũng ở đây, vai trò của KTNN hiện lên rất cụ thể: không ồn ào nhưng giữ cho nền kinh tế vận hành bình thường, liên tục, kể cả trong những thời điểm khó khăn nhất.
Hành trình 40 năm Đổi mới của Việt Nam kể từ năm 1986 không chỉ là một quá trình chuyển đổi về mặt con số hay quy mô tài sản, mà sâu sắc hơn, đó là một cuộc cách mạng về tư duy quản trị quốc gia và định vị lại vai trò của KTNN trong một nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Từ một hệ thống kế hoạch hóa tập trung bao cấp từng dẫn đến khủng hoảng trầm trọng, Việt Nam đã thực hiện bước ngoặt lịch sử để xây dựng nền kinh tế đa thành phần, trong đó KTNN được xác định giữ vai trò chủ đạo. Trải qua bốn thập kỷ, vai trò này đã biến đổi từ việc “nắm giữ mọi thứ” sang việc tập trung vào những lĩnh vực then chốt, tạo nền tảng và dẫn dắt các thành phần kinh tế khác cùng phát triển.
Sự chuyển đổi ấy không hề bằng phẳng. Trong nhiều năm, KTNN vừa phải rút khỏi những lĩnh vực thị trường có thể làm tốt hơn, vừa phải giữ bằng được các “mạch máu” sống còn của nền kinh tế. Chính quá trình chọn lọc, thu hẹp nhưng đồng thời “đậm đặc hóa” vai trò này đã tạo nên diện mạo của kinh tế Việt Nam hôm nay.
Phòng điều khiển trung tâm tại các nhà máy điện là nơi luôn sáng đèn.
Phòng điều khiển trung tâm tại các nhà máy điện là nơi luôn sáng đèn.
KTNN hiện diện ở những không gian quyết định khả năng ổn định và tự chủ của nền kinh tế, từ cung ứng năng lượng, bảo đảm an ninh tài chính-tiền tệ đến duy trì các hạ tầng thiết yếu.
Vai trò trụ cột ấy còn được thể hiện rất cụ thể ở việc KTNN nắm giữ và vận hành các “mạch máu” chiến lược của nền kinh tế. Theo bà Nguyễn Thu Thủy, Phó Cục trưởng Phát triển doanh nghiệp nhà nước (Bộ Tài chính), chỉ riêng trong lĩnh vực năng lượng, Tập đoàn Điện lực Việt Nam bảo đảm nguồn điện cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng, với tổng công suất đặt toàn hệ thống năm 2024 đạt 82.400 MW, trong đó năng lượng tái tạo chiếm khoảng 26%. Ở lĩnh vực dầu khí, Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam giữ vai trò nòng cốt trong tìm kiếm, thăm dò, khai thác và chế biến, góp phần bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia. Trên thị trường xăng dầu, Petrolimex cùng các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) khác chiếm hơn 80% thị phần, góp phần giữ ổn định cung - cầu trong những giai đoạn biến động mạnh.
Về viễn thông, các DNNN như Viettel, VNPT và Mobifone chiếm hơn 95% thị phần thuê bao, giữ vai trò then chốt trong bảo đảm an ninh thông tin, triển khai chính phủ số và duy trì thông tin liên lạc thông suốt trong các sự kiện chính trị - xã hội quan trọng. Cùng với đó, các DNNN lớn trong hàng không, hàng hải, đường sắt, cảng biển đang nắm giữ hạ tầng giao thông - logistics trọng yếu của đất nước.
Đường dây 500 KV do Tập đoàn Điện lực Việt Nam xây dựng, đóng vai trò là hạ tầng năng lượng quan trọng của quốc gia. Ảnh | EVN
Đường dây 500 KV do Tập đoàn Điện lực Việt Nam xây dựng, đóng vai trò là hạ tầng năng lượng quan trọng của quốc gia. Ảnh | EVN
Hiệu quả vận hành chưa đồng đều, bền vững
Quy mô của khu vực DNNN vẫn rất lớn. Năm 2024, doanh thu toàn khối đạt gần 3,3 triệu tỷ đồng, tăng 24% so với năm trước. Tuy nhiên, lợi nhuận trước thuế chỉ đạt khoảng 227.500 tỷ đồng, tăng 8% - thấp hơn đáng kể so với tốc độ mở rộng tài sản. Khoản nộp ngân sách gần 400 nghìn tỷ đồng tiếp tục khẳng định vai trò quan trọng của khu vực này, song đồng thời cũng đặt ra yêu cầu nâng cao chất lượng sử dụng nguồn lực.
Chỉ số ICOR (hệ số sử dụng vốn) không chỉ là những con số thống kê khô khan, mà chính là “phản quang” rõ nét nhất cho bài toán hiệu quả của KTNN. Việc ICOR của Việt Nam duy trì ở mức cao (6-7) so với các nền kinh tế phát triển (3-4), đặc biệt là sự nhỉnh hơn ở khu vực nhà nước, đã chỉ ra một thực tế đáng quan ngại: chúng ta đang duy trì tăng trưởng dựa quá lớn vào việc “đổ” thêm vốn thay vì tối ưu hóa năng suất.
Đây chính là biểu hiện của sự thâm dụng vốn - một mô hình mà ở đó quy mô tài sản có thể phình to nhanh chóng (tăng 45% trong năm 2024) nhưng lợi nhuận lại không bám đuổi kịp tốc độ đầu tư. Khi “mạch máu” nguồn lực quốc gia bị nghẽn lại ở những dự án có hệ số sinh lời thấp hoặc thời gian thu hồi vốn quá dài, năng lực cạnh tranh của toàn bộ nền kinh tế sẽ bị kéo lùi.
Bức tranh hiệu quả còn cho thấy những nghịch lý nội tại. Mức lương bình quân năm 2025 tại DNNN khoảng 9,1-9,2 triệu đồng/tháng, không thấp so với khu vực FDI. Tỷ suất sinh lời trên doanh thu từng đạt khoảng 6 - 7%, tương đương khu vực có vốn đầu tư nước ngoài. Bình quân mỗi DNNN nộp ngân sách ở mức cao hơn nhiều so với doanh nghiệp ngoài nhà nước. Tuy vậy, đến hết năm 2024 vẫn còn khoảng 20% DNNN gánh lỗ lũy kế, gần 9% phát sinh lỗ mới trong năm. Những con số ấy cho thấy khu vực này không thiếu tiềm lực, nhưng hiệu quả vận hành chưa thật sự đồng đều và bền vững.
Tàu SE10 chuyến tàu hạnh phúc về xe Nhân dân đóng cho hàng khách đi ăn tết .
Tàu SE10 chuyến tàu hạnh phúc về xe Nhân dân đóng cho hàng khách đi ăn tết .
Ở góc độ cơ cấu dài hạn, theo TS Hà Huy Ngọc (Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới) đóng góp của khu vực KTNN trong tổng thu ngân sách đã giảm từ mức hơn 55% năm 2000 xuống còn khoảng 20% vào năm 2023. Sự thu hẹp này phản ánh quá trình chuyển dịch sang mô hình kinh tế đa thành phần, nơi khu vực tư nhân và FDI ngày càng đóng vai trò lớn hơn. Điều này có thể tạo ra áp lực lớn hơn đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh, đặc biệt là trong bối cảnh doanh nghiệp nhỏ và vừa còn nhiều khó khăn và cũng đặt ra bài toán về nền tảng tài khóa bền vững, yêu cầu tái định vị vai trò KTNN trong cấu trúc mới.
Nhìn tổng thể, nghịch lý không nằm ở việc DNNN yếu hay không đóng góp, mà ở chỗ hiệu quả sử dụng vốn và năng lực cạnh tranh chưa tương xứng với quy mô nguồn lực đang nắm giữ.
Nghị quyết số 79-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển KTNN là một bước ngoặt quan trọng, xác lập lại vị trí, vai trò và nội hàm của KTNN trong giai đoạn phát triển mới.
Lần đầu tiên, KTNN được nhìn nhận không chỉ qua khu vực doanh nghiệp, mà qua toàn bộ hệ thống nguồn lực chiến lược quốc gia: tài nguyên, dữ liệu, không gian phát triển mới và các công cụ điều tiết vĩ mô. Quan trọng hơn, tư duy “quản lý hành chính” được yêu cầu chuyển mạnh sang tư duy “kiến tạo phát triển” - Nhà nước không làm thay thị trường, nhưng phải đi trước mở đường, đầu tư vào những lĩnh vực nền tảng, rủi ro cao, thời gian thu hồi vốn dài, nơi tư nhân khó hoặc chưa thể tham gia.
Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh, KTNN phải giữ vai trò chủ đạo, bảo đảm các cân đối lớn, ổn định và điều tiết vĩ mô, đồng thời chiếm lĩnh các “cao điểm chiến lược” của nền kinh tế. Nhưng “cao điểm” chỉ thật sự có ý nghĩa khi được giữ bằng hiệu quả vận hành và năng lực dẫn dắt thực chất, chứ không chỉ bằng quy mô sở hữu.
Theo Nghị quyết số 79 của Bộ Chính trị, đến năm 2030 Việt Nam phấn đấu có 50 doanh nghiệp nhà nước lọt vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất Đông Nam Á, từ 1-3 doanh nghiệp nhà nước nằm trong Top 500 doanh nghiệp lớn nhất thế giới. Trọng tâm không chỉ nằm ở quy mô, mà còn ở năng lực cạnh tranh, trình độ công nghệ và khả năng tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu, đặc biệt trong các lĩnh vực chiến lược.
Tổ chức thực hiện: Nhân Dân hằng tháng
Nội dung : Hạnh Nguyên, Thanh Chương, Vũ Hạnh, Lê Quỳnh, Hiền Thu, Bảo Thanh
Trình bày : Phi Nguyên
Ảnh : Nhân Dân, nguồn internet.

