Trong cái khó ló cái hay
Nhìn lại những năm 2021-2022 khi đại dịch Covid-19 lan rộng cả nước, nhiều trường học phải đóng cửa dài ngày. Một giải pháp tình thế được Bộ Giáo dục và Đào tạo triển khai “trường học đóng cửa, nhưng không dừng việc dạy học”. Khái niệm dạy học trực tuyến khi đó còn rất mới mẻ với nhiều nhà trường, không chỉ các trường vùng nông thôn, miền núi khó khăn mà cả ở thành thị.
Tỉnh Vĩnh Phúc cũ (nay thuộc Phú Thọ) là “tâm dịch” đầu tiên trên cả nước thời điểm ấy, học sinh phải nghỉ học kéo dài. Giữa những ngày đó, một thầy giáo đã âm thầm xây dựng kênh dạy học trực tuyến miễn phí cho học sinh tiểu học, rồi kéo nhiều đồng nghiệp tham gia. Đó là thầy hiệu trưởng Đào Chí Mạnh (từng ở Trường tiểu học Kim Ngọc sau này là Trường tiểu học Hội Hợp B, thành phố Vĩnh Yên cũ).
Cách làm của thầy Mạnh là xây dựng các video bài giảng cung cấp cho học sinh và phụ huynh. Bên cạnh đó, sẽ có các tiết học online tương tác trực tiếp. Ở các tiết học này, thầy Mạnh giải đáp thắc mắc, sửa bài, chốt kiến thức và giao nhiệm vụ học tập mới cho học sinh. Khi có đông học sinh muốn học, thầy Mạnh hướng dẫn cho một số giáo viên để lập “team dạy trực tuyến miễn phí” trên nền tảng mình thiết kế. Có thời điểm số học sinh vào học, tương tác lên tới 6.000-7.000.
Khi dịch lan rộng, từ 1-2 trường thử nghiệm, việc triển khai dạy học trực tuyến lan ra cả nước, ở các cấp học, các địa phương bao gồm cả những khu vực khó khăn. Không còn “tự phát” mà là nhiệm vụ bắt buộc chỉ đạo trong toàn ngành giáo dục.
Trong cái khó, ló cái hay. Thành quả của nỗ lực thời chống dịch đã cho nhiều trường một nền tảng dạy học trực tuyến, ứng dụng các phần mềm khác nhau vào dạy học, giáo dục và quản trị nhà trường. Hơn thế là tư duy thích ứng, linh hoạt ứng dụng công nghệ vào dạy học. Nhiều trường những năm sau đại dịch vẫn duy trì hệ thống trực tuyến để phục vụ hoạt động quản lý chuyên môn như sinh hoạt chuyên môn, họp hành, tổ chức hội thảo, hội nghị, thiết lập hệ thống sổ sách, giáo án điện tử, xây dựng nguồn tài liệu dùng chung, ngân hàng câu hỏi ôn tập, phần mềm quản lý, đánh giá học sinh... Một số trường học vẫn duy trì nền tảng trực tuyến để bố trí một số tiết học, hay sử dụng để hướng dẫn ôn tập, giao nhiệm vụ học tập.
Các lớp học kết nối linh hoạt
Kế tiếp giai đoạn vượt khó trong đại dịch là triển khai chương trình giáo dục phổ thông mới với bối cảnh thiếu giáo viên, thiếu phòng lớp học, chênh lệch chất lượng giáo dục giữa các vùng miền. Ứng dụng công nghệ vào hoạt động giáo dục nhà trường lúc này trước hết là giải pháp cấp bách để thực hiện yêu cầu đổi mới.
Mô hình “lớp học kết nối” trở nên phổ biến. Đó là kiểu lớp học thông qua nền tảng trực tuyến để thực hiện dạy học cho học sinh ở các không gian khác nhau. Bên cạnh đó, tiếp tục duy trì hình thức dạy học trực tuyến, do giáo viên vùng thuận lợi hỗ trợ vùng khó khăn. Việc “kết nối” không chỉ nhằm giải quyết câu chuyện thiếu giáo viên mà còn là giải pháp đổi mới phương pháp dạy học, gắn bài học với thực tiễn, rút ngắn khoảng cách chênh lệch chất lượng giữa các vùng miền.
Theo cô Nguyễn Thị Thơm, Phó Hiệu trưởng Trường tiểu học Khánh Yên (Lào Cai), mỗi năm học, trường yêu cầu mỗi giáo viên phải thiết kế dạy 3-6 tiết học kết nối. Giáo viên chủ động liên hệ với giáo viên trường khác, hay các chuyên gia, doanh nhân, nhà khoa học, nghệ sĩ, nghệ nhân để xây dựng các tiết học kết nối.
Chỉ riêng Sở Giáo dục và Đào tạo Lào Cai trong năm học trước đã triển khai khoảng gần 8 nghìn hoạt động kết nối giữa các điểm trường trên địa bàn tỉnh. Ngoài ra, có gần 1 nghìn hoạt động kết nối giữa trường học ở Lào Cai với trường học ở Ninh Bình, Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội và 348 hoạt động kết nối với trường học ở các quốc gia: Ai Cập, Ấn Độ, Trung Quốc, Nigeria, Thái Lan, Philippines…
Hình thức dạy học này nhanh chóng lan rộng, phổ biến không chỉ ở các đô thị mà nhiều địa phương khó khăn.
Thời của AI
Trong hai năm học gần đây, nhiều địa phương đã tổ chức các chuyên đề tập huấn sử dụng AI cho giáo viên, đưa nội dung ứng dụng AI vào sinh hoạt tổ chuyên môn trong các nhà trường, đặt ra trong nhiệm vụ trọng tâm của năm học. Ứng dụng AI vào dạy học cũng là thôi thúc của cá nhân nhiều thầy, cô giáo.
Hiểu và ứng dụng AI không chỉ giảm bớt những công việc mang tính thủ công, nâng chất lượng dạy học mà còn là yêu cầu bắt buộc để giáo viên biết hướng dẫn, học sinh sử dụng AI một cách tích cực, phù hợp, phục vụ học tập, kiểm soát, ngăn ngừa học sinh sử dụng AI vào các mục đích tiêu cực.
Từ thí điểm của các nhà trường, một số địa phương đã đưa tiết học AI vào chương trình. Tại Trường THCS Trưng Vương (Hà Nội) tiết dạy AI dành cho học sinh lớp 6. Theo thầy Nguyễn Phan Anh, muốn học sinh sử dụng AI đúng và hiệu quả cần phải cho các em biết hết năng lực của AI, những gì AI có thể làm tốt, những gì AI khó thay thế được bộ não con người, việc sử dụng và kết nối giữa các năng lực khác nhau của AI để đạt được kết quả gần với mong muốn của mình nhất.
Tại Thành phố Hồ Chí Minh, lãnh đạo Sở Giáo dục và Đào tạo cho biết, hầu hết giáo viên các trường tiểu học, THCS, THPT đều được tập huấn và triển khai ứng dụng AI trong dạy học từ cơ bản đến nâng cao, tùy theo môn học, lớp học áp dụng các mức độ khác nhau.
“AI giúp nhiều nhất trong công tác chủ nhiệm. Cụ thể như việc nắm thông tin về hoàn cảnh, về điểm mạnh, yếu của học sinh đến việc theo dõi quá trình tự cố gắng, rèn luyện, thậm chí “trợ lý AI” có thể hỗ trợ, gợi ý ý tưởng về hoạt động trải nghiệm, lĩnh vực giáo dục hướng nghiệp” - thầy Trần Văn Huy, Trường THPT Phan Huy Chú (Hà Nội) cho biết.
Nhìn lại bước sải dài của việc ứng dụng công nghệ, trí tuệ nhân tạo, có hai điểm thú vị. Thứ nhất là từ thời hậu Covid-19 đến giai đoạn thực hiện Chương trình Giáo dục phổ thông 2018, hành trình tiếp cận với công nghệ, trí tuệ nhân tạo không chỉ được đẩy mạnh ở vùng thuận lợi mà trong nhiều trường hợp, những “điểm sáng” lại được minh chứng ở nơi khó khăn. Thứ hai, sự lan tỏa mạnh mẽ trong việc chiếm lĩnh công nghệ được nhìn thấy rõ nét ở chiều ngang: Trường với trường, giáo viên với giáo viên, chuyên gia với giáo viên, học sinh. Những sáng kiến đi từ cơ sở, địa phương trở thành cơ sở thực tiễn cho việc hoàn thiện hành lang pháp lý.
Về nguy cơ bất bình đẳng ở thời đại chuyển đổi số, Bộ Giáo dục và Đào tạo nhận định: “Hạ tầng số vẫn chưa đồng đều giữa các địa phương. Việc đầu tư phần mềm còn phân tán, nhiều hệ thống chưa bảo đảm kết nối, chia sẻ dữ liệu theo chuẩn chung, dẫn đến trùng lặp chức năng và chưa khai thác hiệu quả dữ liệu. Năng lực số của giáo viên, học sinh ở nhiều địa phương có điều kiện giáo dục khó khăn còn thấp, trong khi việc tập huấn, tiếp cận các sản phẩm công nghệ hạn chế”.
Tuy vậy, theo các chuyên gia giáo dục thì nếu khắc phục các hạn chế được chỉ ra ở trên thì ứng dụng công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo lại tạo nên sự đổi chiều, là giải pháp mạnh để thu hẹp khoảng cách chất lượng giáo dục, tạo cơ hội cho người học ở vùng khó khăn tiếp cận nhiều hơn với nền giáo dục tiến bộ, thúc đẩy cải thiện chất lượng giáo dục.