Chú trọng phát huy vai trò người thầy

Công bằng giáo dục không chỉ được quyết định bởi việc trẻ em có được đến trường hay không. Quan trọng hơn, các em được học với giáo viên nào, trong điều kiện ra sao và có nhận được sự hỗ trợ phù hợp nhu cầu của mình hay không. Vì vậy, đầu tư cho đội ngũ nhà giáo không chỉ là đầu tư cho nhân lực ngành giáo dục, mà còn là đầu tư trực tiếp cho chất lượng và công bằng xã hội.

Hội nghị thông qua quyết định đổi tên tại Trường tiểu học Mỹ Hào số 3 (tỉnh Hưng Yên). Ảnh | VĂN MỸ
Hội nghị thông qua quyết định đổi tên tại Trường tiểu học Mỹ Hào số 3 (tỉnh Hưng Yên). Ảnh | VĂN MỸ

Nơi khó nhất cần thầy, cô vững nhất

Trong nhiều thập niên, chính sách giáo dục tập trung mở rộng trường lớp, tăng tỷ lệ đi học và cải thiện cơ sở vật chất. Đây là nền tảng quan trọng của công bằng về cơ hội. Nhưng khi mục tiêu phổ cập được mở rộng, câu hỏi đặt ra không còn chỉ là một đứa trẻ có được đến trường hay không, mà là các em có thật sự có cơ hội học tập chất lượng hay không.

Hai học sinh cùng đến trường chưa chắc có cơ hội học tập như nhau. Một em có thể được học với giáo viên giàu kinh nghiệm, được hỗ trợ cá nhân hóa. Một em khác có thể học trong lớp đông, thiếu giáo viên bộ môn, giáo viên thường xuyên thay đổi. Khoảng cách về cơ hội học tập, vì thế, nhiều khi bắt đầu từ chính sự phân bố không đồng đều của đội ngũ nhà giáo.

Giáo viên là nhân tố thuộc về nhà trường có ảnh hưởng trực tiếp và mạnh mẽ nhất đến kết quả học tập của học sinh. Chất lượng giáo viên không chỉ tác động đến điểm số, mà còn ảnh hưởng đến động lực học tập, cảm nhận được tôn trọng, khả năng hòa nhập và niềm tin của học sinh vào tương lai.

Vai trò này càng rõ với trẻ em ở vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, trẻ khuyết tật, trẻ có hoàn cảnh kinh tế khó khăn hoặc học sinh gặp vấn đề tâm lý. Các em cần người giáo viên có khả năng nhận diện nhu cầu khác biệt, điều chỉnh phương pháp, xây dựng cảm giác an toàn và tạo ra trải nghiệm học tập phù hợp. Theo nghĩa đó, giáo viên chính là người chuyển hóa những nguyên tắc công bằng trong chính sách thành hành động cụ thể trong lớp học. Một chương trình giáo dục có thể được thiết kế tiến bộ, nhưng nếu giáo viên không được chuẩn bị đầy đủ, không có thời gian, nguồn lực hoặc động lực để thực hiện, mục tiêu công bằng vẫn có thể chỉ dừng lại trên văn bản.

Trong lớp học của cô Biện Thị Đèo, Trường tiểu học Hưng Điền (Tây Ninh) có một học sinh mồ côi cha, mẹ đi làm xa, sống cùng bà ngoại. Em mặc cảm, học tập sa sút và có nguy cơ bỏ học. Cô Đèo đến thăm gia đình, cùng tập thể lớp góp sách vở, đồng phục và tổ chức nhóm bạn hỗ trợ. Dần dần, em trở lại các hoạt động chung, tiến bộ và tự tin hơn. Thực tế cho thấy hoàn cảnh gia đình, tâm lý mặc cảm hay biến cố trong cuộc sống có thể kéo trẻ ra khỏi lớp học. Nhận ra những dấu hiệu ấy, giáo viên cần có kinh nghiệm, thời gian và sự thấu hiểu.

Địa bàn vùng biên nơi cô Đèo dạy học cũng như nhiều vùng khó khăn khác vừa khó tuyển dụng, vừa khó giữ chân người có năng lực. Một giáo viên trẻ có thể sẵn sàng nhận nhiệm vụ ở miền núi vài năm, nhưng để gắn bó lâu dài, chính sách không thể chỉ dựa vào lời kêu gọi cống hiến. Áp lực không chỉ đến từ mỗi tiết dạy mà còn quản lý, chăm sóc học sinh ngoài giờ. Để giải bài toán thiếu giáo viên, một số địa phương bước đầu áp dụng giải pháp linh hoạt như dạy liên trường, liên cấp, kết hợp trực tiếp với trực tuyến. Đây là bước chuyển động đáng ghi nhận, nhưng chỉ nên xem là giải pháp tình thế, không thể thay thế một đội ngũ ổn định, gắn bó với địa phương. Tuyển dụng cần được nhìn nhận trong cả chu trình đào tạo, sử dụng và giữ chân, thay vì kết thúc khi một vị trí trống được lấp đầy.

Luật Nhà giáo và yêu cầu quản trị đội ngũ

Luật Nhà giáo có hiệu lực từ ngày 1/1/2026 đánh dấu bước phát triển mới trong xây dựng đội ngũ nhà giáo. Đây là đạo luật chuyên biệt đầu tiên điều chỉnh toàn diện vị trí, quyền, nghĩa vụ, tuyển dụng, đãi ngộ và phát triển nghề nghiệp của nhà giáo. Ý nghĩa của luật không chỉ ở việc khẳng định vai trò người thầy, mà còn mở ra khả năng chuyển từ tư duy quản lý hành chính sang quản trị nguồn nhân lực giáo dục. Tuy nhiên, luật hóa vị thế nhà giáo mới là bước khởi đầu. Hiệu quả chính sách phải được nhìn từ những thay đổi cụ thể trong đời sống nghề nghiệp: Giáo viên vùng khó khăn có được hỗ trợ về điều kiện làm việc, giáo viên trẻ có nhìn thấy lộ trình phát triển nghề nghiệp hay không.

Cơ chế hỗ trợ học phí, sinh hoạt phí cho sinh viên sư phạm theo Nghị định số 116/2020/NĐ-CP đã góp phần tăng sức hấp dẫn của ngành sư phạm. Nhưng tuyển được sinh viên giỏi chưa đồng nghĩa hệ thống sẽ có đủ giáo viên giỏi ở những nơi cần nhất. Chính sách nhân lực cần bảo đảm cả chu trình từ tuyển sinh, đào tạo, tuyển dụng đến giữ chân, đặc biệt với giáo viên mới vào nghề tại địa bàn khó khăn - nhóm thường được phân công đến những lớp khó nhất nhưng lại nhận ít hỗ trợ nhất.

Giáo viên hiện nay không chỉ truyền đạt kiến thức, mà còn phải triển khai chương trình theo định hướng phát triển phẩm chất và năng lực, dạy học phân hóa, giáo dục hòa nhập, hỗ trợ tâm lý học sinh và thực hiện chuyển đổi số. Mỗi yêu cầu riêng lẻ đều hợp lý, nhưng khi dồn lại trong thời gian ngắn mà nhân lực và điều kiện hỗ trợ chưa theo kịp, đổi mới có thể trở thành nguồn gây quá tải.

Một nghiên cứu trên giáo viên THPT tại Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy, mức độ hài lòng nghề nghiệp chịu ảnh hưởng đồng thời của thu nhập, bầu không khí nhà trường và mức độ căng thẳng. Kiệt sức nghề nghiệp không nên được xem là biểu hiện của một giáo viên thiếu khả năng thích nghi, mà có thể là dấu hiệu cảnh báo về cách tổ chức công việc và chất lượng quản trị nhà trường. Khi giáo viên kiệt sức, những học sinh cần sự quan tâm nhiều nhất thường là những người chịu ảnh hưởng đầu tiên. Bảo vệ sức khỏe tinh thần và động lực nghề nghiệp của giáo viên, vì thế, cũng là bảo vệ quyền được học tập có chất lượng của học sinh.

Hướng tới thu hút và giữ chân giáo viên ở khu vực khó khăn, tăng lương và phụ cấp là điều kiện cần nhưng chưa đủ. Chính sách cần kết hợp đãi ngộ tài chính với nhà ở, chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ gia đình và con đường phát triển nghề nghiệp; đồng thời ghi nhận quá trình cống hiến của giáo viên vùng khó khăn trong xét thăng hạng, bổ nhiệm. Việc quản lý đội ngũ cũng cần chuyển từ thống kê thiếu hụt sang dự báo nhu cầu - dựa trên số giáo viên nghỉ hưu, nhu cầu từng môn học, biến động dân số - để tuyển sinh, đào tạo được điều chỉnh sát hơn với thực tế.

Công bằng giáo dục thường được diễn giải bằng những khái niệm lớn như quyền tiếp cận, không phân biệt đối xử và cơ hội phát triển. Nhưng với một học sinh, công bằng đôi khi được thể hiện qua những điều rất cụ thể: Có giáo viên đúng chuyên ngành và đủ kinh nghiệm; có người thầy đủ thời gian để nhận ra một học sinh đang bị bỏ lại phía sau; có phương tiện hỗ trợ phù hợp với học sinh khuyết tật và có một người thầy không quá mệt mỏi để lắng nghe một câu chuyện chưa thể nói gãy gọn.

Thực tế, khi được tạo điều kiện phát huy sở trường và duy trì động lực cống hiến, nhiều giáo viên tâm huyết đầu tư chất lượng giảng dạy. Câu chuyện cô Vàng Thị Dính, Trường Phổ thông Dân tộc nội trú THCS và THPT Đồng Văn (Tuyên Quang) là một minh chứng điển hình về sự chủ động nâng cao trình độ và bồi dưỡng chuyên môn nhà giáo. Chứng chỉ xác nhận giáo viên đã hoàn thành chương trình, nhưng thay đổi trong lớp học mới cho biết kiến thức được chuyển hóa đến đâu. Khóa bồi dưỡng có ý nghĩa thiết thực khi giáo viên giải quyết tốt hơn vấn đề thực tế, tạo được học liệu, tổ chức hoạt động mới hoặc giúp đồng nghiệp tiến bộ. Thông qua học trực tuyến, cô Dính làm quen với lập trình, STEM và trí tuệ nhân tạo, rồi mang kiến thức mới vào lớp học vùng cao. Đội robot đầu tiên của trường được thành lập. Học sinh lắp ráp, viết lệnh, thử nghiệm, sửa lỗi. Cô trò tổ chức ngày hội STEM, giải robot mở rộng và biểu diễn robot dưới chân Cột cờ Lũng Cú. Cô còn cùng đồng nghiệp trao thiết bị cho 5 trường THCS và một trường tiểu học, tập huấn robot cho 20 trường THCS, dạy ứng dụng AI tại hai trường ở xã Đồng Văn. Năng lực người thầy lan tỏa vượt xa một ngôi trường, giúp thêm nhiều đồng nghiệp và học sinh được tiếp cận công nghệ.

Một hệ thống giáo dục khó có thể công bằng nếu những học sinh có nhu cầu lớn nhất lại học trong những ngôi trường thiếu giáo viên nhất. Đầu tư cho giáo viên, xét đến cùng, không phải là khoản chi riêng cho một nhóm nghề nghiệp, mà là khoản đầu tư trực tiếp cho quyền được học tập, cho sự dịch chuyển xã hội và cho tương lai phát triển công bằng, bền vững của đất nước.

Thiếu giáo viên không riêng của Việt Nam. UNESCO ước tính thế giới cần bổ sung khoảng 44 triệu giáo viên tiểu học và trung học vào năm 2030, và tình trạng này thường nghiêm trọng hơn ở khu vực nghèo, nông thôn. Chuẩn bị năm học 2026-2027, Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Công văn số 5243, nêu rõ gắn tuyển dụng với sắp xếp trường học, bảo đảm chế độ cho người được điều động và bố trí nhân sự hỗ trợ để giáo viên tập trung dạy học.

Có thể bạn quan tâm