Đưa trường đến gần học sinh
Trước đây, tuần nào chị Vừ Thị Mua cũng thu xếp đưa hai con từ bản Pú Đao đến trường. Gia đình chị sống ở một trong những bản xa của xã biên giới Si Pa Phìn, tỉnh Điện Biên, nơi hành trình đến lớp gắn với những con dốc dài và nỗi lo thường trực của nhiều bậc cha mẹ. Chồng đi làm thuê, chị ở nhà chăm con, nuôi thêm ít lợn, gà để trang trải cuộc sống. Mỗi chuyến đi lấy thêm thời gian và một khoản tiền ít ỏi gia đình phải chắt chiu.
Năm học này, những chuyến đi ấy khép lại. Hai con gái của chị được học và ở lại Trường Phổ thông nội trú liên cấp xã Si Pa Phìn. Giữa núi rừng biên giới, một ngôi trường với phòng học, khu nội trú, nhà ăn, thư viện, sân chơi và các hạng mục phục vụ học tập, sinh hoạt đã mở ra điều kiện học tập khác cho học sinh vùng xa. Nghị định số 188/2026/NĐ-CP, có hiệu lực từ ngày 15/7/2026, bổ sung chính sách hỗ trợ học sinh các trường phổ thông nội trú ở xã biên giới đất liền, từ tiền ăn, gạo, học phẩm, đồng phục đến đồ dùng cá nhân. Ngôi trường mới vì thế trở thành một phần của chính sách hướng về người học, để trẻ em ở những nơi khó khăn có thể ở lại trường và học tập trong những điều kiện ngày càng đầy đủ hơn.
Si Pa Phìn là một điểm xuất phát của chủ trương đưa nguồn lực giáo dục đến những nơi học sinh còn chịu nhiều cách trở. Trước thềm năm học 2026-2027, các trường phổ thông nội trú liên cấp đang được gấp rút hoàn thiện trên nhiều tuyến biên giới. Một ngôi trường mới không giải quyết hết những bất lợi của vùng biên, nhưng có thể làm thay đổi điều rất cụ thể: Trẻ em không còn phải đánh đổi việc học bằng những chuyến đi dài, còn cha mẹ bớt đi một nỗi lo trong cuộc sống vốn đã nhiều chật vật. Quyền được học, trước hết, phải bắt đầu từ những điều kiện để việc đến trường và ở lại trường không trở thành gánh nặng đối với gia đình.
Từ bộ máy tới lớp học...
Trong quá trình chuẩn bị sáp nhập vào đơn vị mới, Trường THCS Hương Sơn (Hà Nội) phải rà soát lại hồ sơ, công việc và nhân sự. Phía sau những thủ tục ấy là bài toán đội ngũ đã kéo dài nhiều năm. Năm học tới, trường có 37 lớp, 58 giáo viên và còn thiếu 12 người ở nhiều bộ môn. Trong khi đó, một số trường quy mô nhỏ hơn trên cùng địa bàn lại có giáo viên chưa đủ định mức tiết dạy.
Thầy Hiệu trưởng Nguyễn Viết Long cho biết, phương án sau sắp xếp đã tính đến việc một số cán bộ quản lý trở lại trực tiếp giảng dạy, đồng thời điều chuyển giáo viên giữa các cơ sở trong cùng hệ thống. Chính quyền xã đã làm việc với từng trường, lắng nghe tâm tư của cán bộ, giáo viên, nhân viên trước khi triển khai. Sáp nhập một trường, vì thế, không chỉ là việc thay đổi đầu mối quản lý. Đằng sau đó là cơ hội sắp xếp lại đội ngũ để những nơi đang thiếu giáo viên không còn tiếp tục xoay xở một mình.
Từ Trường THCS Hương Sơn nhìn sang Tuyên Quang, bức tranh ấy có thêm một chiều khác. Trong lúc Trường Phổ thông nội trú liên cấp Tiểu học và Trung học cơ sở Thanh Thủy đang gấp rút hoàn thiện để đón học sinh vùng biên, thì 1.063 cơ sở giáo dục công lập trên địa bàn tỉnh cũng được sắp xếp lại xuống còn 578, giảm 485 đầu mối. Xây thêm trường ở biên giới cùng lúc triển khai thu gọn bộ máy trên phạm vi toàn tỉnh, nhìn qua có vẻ ngược nhau. Song các điểm học cần thiết vẫn được duy trì dưới dạng phân hiệu hoặc điểm trường; mỗi xã tiếp tục bảo đảm tối thiểu một trường mầm non và một trường phổ thông. Phần được sắp xếp chủ yếu là pháp nhân và bộ máy quản lý.
Bộ Giáo dục và Đào tạo yêu cầu việc sắp xếp phải bảo đảm nguyên tắc chuyên môn, quyền học tập của học sinh, không thực hiện cơ học để giảm đầu mối. TS Vũ Minh Đức, Cục trưởng Nhà giáo và Cán bộ quản lý giáo dục (Bộ Giáo dục và Đào tạo) khẳng định: “Điều này không có nghĩa là giảm số lượng điểm trường hay thay đổi địa điểm học tập của học sinh. Các em vẫn học tại cơ sở hiện nay”. Hệ thống mới có tạo ra điều kiện dùng chung thiết bị, điều hòa giáo viên và kết nối hoạt động chuyên môn hay không sẽ phải chờ câu trả lời từ quá trình vận hành.
Xã Thường Tín (Hà Nội) vừa tổ chức 26 trường công lập thành 11 trường, tuy nhiên 464 lớp học với 14.847 học sinh vẫn giữ tại các cơ sở hiện có. Những con số ấy mới chỉ phản ánh phần tổ chức. Chất lượng của mô hình trường chính và các phân hiệu sẽ được nhận ra trong từng ngày học: Giáo viên có được phân công hợp lý hơn không; phòng học chức năng, thư viện có đến được các cơ sở xa không; học sinh ở phân hiệu có cơ hội tham gia đầy đủ các hoạt động như ở trường chính hay không.
Băn khoăn của cô Dương Kim Ngân, giáo viên Trường Phổ thông Dân tộc bán trú Tiểu học và Trung học cơ sở Hồng Thái (Tuyên Quang) gợi mở thêm một yêu cầu khi tổ chức trường đa cơ sở. Việc dạy ở nhiều điểm trường miền núi có thể tăng thời gian đi lại, chi phí và áp lực công việc của giáo viên. Giữ phân hiệu giúp học sinh không phải đi xa hơn, song cần có thời khóa biểu và hỗ trợ phù hợp để các thầy, cô vẫn đủ thời gian cho bài giảng, cho học sinh.
Tại cuộc làm việc với ngành giáo dục ngày 15/6, khi đánh giá 10 tháng triển khai Nghị quyết số 71-NQ/TW, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm lưu ý, chuyển biến thực chất trong từng nhà trường, từng lớp học vẫn chưa đồng đều, chưa đủ mạnh so với yêu cầu đột phá. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước yêu cầu mọi phương án sắp xếp phải được đánh giá bằng tác động đến khoảng cách đi học, sĩ số, chất lượng dạy học, giao thông và điều kiện làm việc của giáo viên. Bộ máy gọn hơn chỉ thật sự có ý nghĩa khi tạo thêm khả năng cho giáo viên đứng lớp và thu hẹp chênh lệch điều kiện học tập giữa các cơ sở.
... và đến năng lực quốc gia
Ở Trường Phổ thông nội trú liên cấp Si Pa Phìn, học sinh bắt đầu làm quen với phòng máy và những thiết bị mới. Với các em, đó là một không gian học tập trước đây còn xa lạ. Nhưng một phòng máy hay một khu nội trú mới mới chỉ tạo nền cho việc học. Giá trị của đầu tư sẽ được nhận ra ở những giờ học sau đó: Học sinh có thêm kỹ năng, có hứng thú tìm hiểu và có đủ tự tin để đi tiếp trên con đường học tập của mình hay không.
Cô Bùi Thị Ái Mai, giáo viên Trường tiểu học Tân Hiệp ở vùng biên tỉnh Tây Ninh, có 16 năm dạy lớp ghép với học sinh khác nhau về tuổi, trình độ, có cả những em khuyết tật học hòa nhập. Nhiều em chưa từng học mẫu giáo, vào lớp 1 còn bỡ ngỡ với những kỹ năng cơ bản. Trong một lớp học như vậy, giáo viên phải chia nhỏ bài học, tìm cách dạy phù hợp cho từng nhóm và dành thêm thời gian cho những học sinh yếm thế. Điều kiện vật chất chỉ phát huy tác dụng khi người thầy có đủ năng lực và thời gian để biến nó thành sự tiến bộ của từng học trò.
Sau những phương án sáp nhập ở Hương Sơn, Thường Tín (Hà Nội) hay Tuyên Quang là một sự dịch chuyển nguồn nhân lực giáo dục trên phạm vi cả nước. Theo thông tin của Bộ Giáo dục và Đào tạo, hơn 20 nghìn cán bộ quản lý dự kiến được điều chuyển, sắp xếp lại; khoảng 11 nghìn người có thể được bố trí trực tiếp đứng lớp. Những con số ấy mới cho thấy quy mô của thay đổi. Hiệu quả sẽ phụ thuộc vào việc giáo viên có được bố trí đúng môn học, đúng cấp học, đúng điểm trường đang thiếu hay không; có thêm thời gian cho bài giảng và cho những học sinh cần được quan tâm nhiều hơn hay không.
Với chị Vừ Thị Mua ở bản Pú Đao, thay đổi trước mắt là hai con không còn phải vượt quãng đường dài đèo dốc để đến trường mỗi tuần. Phần còn lại sẽ được kiểm chứng trong từng năm học: Các em có được học đủ môn, có người thầy đủ thời gian cho lớp học và có thể đi xa hơn từ chính ngôi trường ở vùng biên hay không. Khi những câu trả lời ấy dần rõ lên, nguồn lực dành cho giáo dục mới thật sự trở thành nền tảng cho chặng đường phát triển mới của đất nước.
Đất nước đang cần một lực lượng lao động có kỹ năng nghề, năng lực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Vì vậy, công bằng trong tiếp cận phải đi đến công bằng về chất lượng học tập. Một học sinh ở vùng biên cần được đến trường thuận lợi, được học đủ môn, có người thầy phù hợp và cơ hội tiếp cận những tri thức mới. Dữ liệu giáo dục cũng cần chỉ ra nơi nào thiếu giáo viên, điểm trường nào thiếu điều kiện dạy học, học sinh nào có nguy cơ bỏ học để nguồn lực được đưa đến đúng địa chỉ.