Bảo đảm chất lượng giáo dục phổ thông:
Bước chuyển từ kiểm định sang quản trị
Trong nhiều năm, kiểm định chất lượng và xây dựng trường chuẩn quốc gia được xem là “thước đo” quan trọng của giáo dục phổ thông. Hàng chục nghìn cơ sở giáo dục đã trải qua các đợt tự đánh giá, đánh giá ngoài; tỷ lệ trường đạt chuẩn quốc gia liên tục tăng. Nhưng phía sau những con số ấy, liệu chất lượng giáo dục có thật sự được cải thiện tương xứng?
Khi yêu cầu giáo dục đã chuyển mạnh sang phát triển phẩm chất, năng lực người học và quản trị theo kết quả, mô hình đánh giá theo chu kỳ bắt đầu bộc lộ độ “vênh” với thực tiễn. Một kết quả đánh giá tại một thời điểm có thể được sử dụng cho cả giai đoạn nhiều năm, trong khi chất lượng giáo dục lại thay đổi từng ngày theo đội ngũ giáo viên, dữ liệu học sinh và năng lực quản trị nhà trường. Không ít nơi, hoạt động kiểm định dần bị “mùa vụ hóa”: đến kỳ đánh giá thì hoàn thiện hồ sơ, bổ sung minh chứng; sau công nhận, việc cải tiến chất lượng lại thiếu cơ chế theo dõi thường xuyên. Nghịch lý ấy khiến nhiều trường học đứng giữa hai áp lực: nâng cao chất lượng thực chất hay chạy theo yêu cầu giấy tờ.
Đòi hỏi đổi mới đang được đặt ra không chỉ ở kỹ thuật kiểm định, mà ở chính tư duy quản lý chất lượng giáo dục: từ khoảng trống của mô hình đánh giá theo chu kỳ, áp lực hồ sơ và nghịch lý dữ liệu, đến yêu cầu xây dựng một hệ thống quản trị chất lượng vận hành liên tục, thực chất và minh bạch hơn. Tiêu điểm số tháng 5 của Nhân Dân hằng tháng tìm hiểu thực trạng và góp phần kiến giải vấn đề này.
Thay đổi cách thức đánh giá:
Đòi hỏi từ thực tiễn
Có một hình ảnh khá quen thuộc ở nhiều trường học hiện nay: càng gần thời điểm đánh giá ngoài, không khí trong trường càng nóng. Hồ sơ được bổ sung gấp rút, minh chứng được rà soát liên tục, các sổ sách, biểu mẫu nhanh chóng được hoàn thiện, giáo viên tranh thủ cập nhật kế hoạch bài dạy, biên bản sinh hoạt chuyên môn, hình ảnh hoạt động. Khi chúng tôi gọi điện thoại hay xin cuộc hẹn, nhiều nơi thường báo lại: “Cô ơi, bọn em đang mùa kiểm định nên bận lắm. Xin hẹn cô sau”.
Nhưng sau khi đoàn đánh giá rời đi và trường được công nhận đạt chuẩn, nhịp độ ấy thường giảm xuống rất nhanh. Các cuộc họp về cải tiến chất lượng thưa dần, dữ liệu học tập không còn được phân tích thường xuyên, hoạt động tự đánh giá quay trở lại tính chất hành chính quen thuộc. Đây không còn là câu chuyện cá biệt của từng trường học, mà phản ánh giới hạn ngày càng rõ của mô hình đánh giá theo chu kỳ trong bối cảnh giáo dục đang thay đổi nhanh chóng.
Từ mục tiêu đạt chuẩn đến áp lực hồ sơ
Theo Nghị quyết 71 của Bộ Chính trị, đến năm 2030, Việt Nam đặt mục tiêu có ít nhất 80% trường phổ thông đạt chuẩn quốc gia. Theo báo cáo của Bộ Giáo dục và Đào tạo, hiện khoảng 65% trường phổ thông trên cả nước đạt chuẩn quốc gia.
Để duy trì và mở rộng tỷ lệ này, hàng chục nghìn cơ sở giáo dục trên cả nước phải thực hiện quy trình tự đánh giá, chuẩn bị minh chứng, tham gia đánh giá ngoài và tái công nhận theo chu kỳ 5 năm/lần. Điều này đồng nghĩa với việc nếu mỗi trường đều phải dành nhiều tháng để chuẩn bị cho một chu kỳ đánh giá, thì toàn hệ thống giáo dục sẽ tiêu tốn khối lượng rất lớn thời gian, nhân lực và nguồn lực hành chính cho hoạt động hồ sơ, minh chứng và tái công nhận, thay vì tập trung nhiều hơn cho cải tiến hoạt động dạy học và hỗ trợ học sinh.
Trong nhiều năm qua, hệ thống kiểm định và bảo đảm chất lượng giáo dục đã góp phần quan trọng vào việc chuẩn hóa hoạt động nhà trường, cải thiện cơ sở vật chất, nâng cao nhận thức về chất lượng và thúc đẩy các cơ sở giáo dục hoàn thiện điều kiện dạy học. Các đợt đánh giá ngoài theo chu kỳ (sử dụng kết quả đánh giá tại một thời điểm để công nhận chất lượng trong một giai đoạn tương đối dài) từng phù hợp giai đoạn đầu khi giáo dục Việt Nam cần thiết lập chuẩn mực chung và tạo động lực cải thiện hệ thống.
Tuy nhiên, trong bối cảnh đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục hiện nay, khi yêu cầu quản lý đang chuyển mạnh từ “quản lý theo quy trình” sang “quản trị theo kết quả và dữ liệu”, mô hình này bắt đầu bộc lộ nhiều khoảng trống. Một trường học không thể được xem là luôn duy trì chất lượng chỉ vì đã đạt chuẩn ở một thời điểm trước đó. Có trường được công nhận đạt chuẩn quốc gia nhưng chỉ vài năm sau đã gặp khó khăn vì biến động thiếu giáo viên, sĩ số tăng nhanh, cơ sở vật chất xuống cấp hoặc chất lượng học sinh giảm sút. Chính vì vậy mới xuất hiện nghịch lý: trường đạt chuẩn nhưng phụ huynh vẫn chưa hài lòng; kết quả kiểm định tích cực nhưng chất lượng học tập hoặc môi trường giáo dục chưa chuyển biến tương xứng.
Giá trị thật của bảo đảm chất lượng không nằm ở những bộ hồ sơ hoàn chỉnh trước ngày đánh giá, mà ở khả năng làm cho nhà trường tốt lên mỗi ngày sau khi đoàn đánh giá đã rời đi. Chất lượng thực chỉ xuất hiện khi việc cải tiến diễn ra hằng ngày trong từng lớp học, từng hoạt động dạy học và từng quyết định quản trị của nhà trường.
Một hiệu trưởng trường phổ thông tại miền trung chia sẻ rằng trước mỗi đợt đánh giá ngoài, giáo viên gần như “căng hết công suất” để hoàn thiện hồ sơ minh chứng. “Có những minh chứng hoạt động thực tế đã làm nhưng chưa lưu đầy đủ nên phải bổ sung lại rất nhiều. Có thời điểm giáo viên dành nhiều thời gian cho hồ sơ hơn cho việc phân tích dữ liệu học tập của học sinh”. Theo một số giáo viên tại Thành phố Hồ Chí Minh, áp lực lớn nhất trước kiểm định không phải là thay đổi phương pháp dạy học mà là hoàn thiện biểu mẫu, kế hoạch, minh chứng và sắp xếp hồ sơ theo tiêu chí, thậm chí phải tranh thủ làm cả buổi tối hoặc cuối tuần. Sau kiểm định, ai cũng mệt nên hoạt động tự đánh giá gần như chùng xuống.
Thực tế, không ít trường học hiện vẫn vận hành theo logic đến kỳ kiểm định thì làm mạnh, thay vì duy trì việc cải tiến thường xuyên, liên tục. Trong một số trường hợp, hoạt động bảo đảm chất lượng đang bị hiểu thành nhiệm vụ hoàn thiện hồ sơ nhiều hơn là cải tiến chất lượng thực. Đội ngũ đánh giá ngoài thiếu ổn định, kiêm nhiệm nhiều, chưa dành nhiều thời gian cho nghiên cứu kỹ hồ sơ; chưa thực hiện đầy đủ, hiệu quả công tác cải tiến chất lượng sau đánh giá do thiếu kiểm tra, theo dõi.
Bản chất của chất lượng giáo dục không phải là trạng thái tĩnh mà là kết quả của quá trình vận hành hằng ngày. Nếu chỉ dựa vào đánh giá định kỳ, hệ thống rất khó phản ánh đầy đủ chất lượng thực và thường phản ứng chậm hơn so với tốc độ thay đổi của môi trường giáo dục. Mặt khác, khoảng cách giữa các chu kỳ đánh giá tương đối dài, trong khi đó chất lượng giáo dục của nhà trường có thể thay đổi đáng kể do biến động từ đầu vào và sự tiến bộ của học sinh, năng lực đội ngũ giáo viên, môi trường giáo dục và khả năng quản trị của nhà trường, áp lực triển khai Chương trình Giáo dục phổ thông 2018, sĩ số, cơ sở vật chất. Tuy nhiên, nhiều biến động lại không được phản ánh kịp thời trong hệ thống đánh giá hiện hành và vấn đề phát sinh khi được phát hiện đã trở nên nghiêm trọng hoặc khó khắc phục.
Vấn đề quan trọng không chỉ là số lượng trường đạt chuẩn mà là chất lượng thực chất và tính bền vững của hệ thống.
Vấn đề quan trọng không chỉ là số lượng trường đạt chuẩn mà là chất lượng thực chất và tính bền vững của hệ thống.
Tiến tới mô hình quản trị chất lượng liên tục
Xu hướng chuyển đổi này không chỉ diễn ra ở Việt Nam. Nhiều quốc gia hiện không còn đặt trọng tâm vào các đợt đánh giá quy mô lớn theo chu kỳ cứng, mà chuyển sang mô hình theo dõi chất lượng liên tục dựa trên dữ liệu và cơ chế giám sát theo mức độ rủi ro. Thay vì chờ đến kỳ đánh giá mới phát hiện vấn đề, cơ quan quản lý có thể theo dõi chất lượng thường xuyên thông qua các chỉ số vận hành của nhà trường như kết quả học tập, tỷ lệ chuyên cần, tình trạng bỏ học, mức độ hài lòng của phụ huynh hoặc hiệu quả hoạt động dạy học. Trong mô hình này, bảo đảm chất lượng không còn chỉ là hoạt động phục vụ công nhận đạt chuẩn, mà trở thành công cụ quản trị nội bộ. Nhà trường phải chủ động thu thập, phân tích và sử dụng thông tin để phát hiện sớm vấn đề và điều chỉnh kịp thời. Khi dữ liệu trở thành một phần của quản trị thường xuyên, hoạt động tự đánh giá sẽ không còn là bộ hồ sơ làm để “đón đoàn”, mà trở thành quá trình cải tiến liên tục diễn ra trong đời sống hằng ngày của nhà trường.
Mục tiêu đến năm 2030: Ít nhất 80% trường phổ thông đạt chuẩn quốc gia.
Thực tế cho thấy, các cơ sở giáo dục cũng nhận định được tầm quan trọng của mô hình quản trị chất lượng liên tục. Một thành viên của đoàn tham gia đánh giá ngoài tại các trường ở Hà Nội nhận định: Phần lớn các nhà trường đã thay đổi tư duy từ đối phó sang chủ động quản trị chất lượng, nhận thức rõ kiểm định là cơ hội để rà soát toàn diện hoạt động của nhà trường. Thông qua kiểm định, nhiều trường đã tận dụng nguồn lực xã hội hóa và đầu tư công để nâng cơ sở vật chất, đáp ứng các tiêu chuẩn về an toàn.
Điều này cũng đòi hỏi phải thay đổi vai trò của đánh giá ngoài. Trong mô hình mới, đánh giá ngoài vẫn cần thiết nhưng không nên triển khai đồng loạt theo chu kỳ cứng như hiện nay. Hoạt động này cần được thiết kế theo hướng tinh gọn, linh hoạt và dựa trên mức độ rủi ro. Thay vì tất cả các trường đều trải qua quy trình giống nhau, cơ quan quản lý có thể tập trung nguồn lực vào những cơ sở có dấu hiệu bất thường, có biến động lớn về chất lượng hoặc cần hỗ trợ chuyên môn. Đánh giá ngoài khi đó sẽ đóng vai trò kiểm chứng, hiệu chuẩn và hỗ trợ cải tiến, thay vì chủ yếu rà soát hồ sơ minh chứng.
Trong bối cảnh hiện nay, vấn đề quan trọng không chỉ là số lượng trường đạt chuẩn mà là chất lượng thực chất và tính bền vững của hệ thống.
Điều này đòi hỏi phải từng bước xây dựng hệ thống dữ liệu giáo dục thống nhất, cho phép theo dõi chất lượng theo thời gian; đồng thời đơn giản hóa yêu cầu về hồ sơ, minh chứng để giảm áp lực hành chính cho giáo viên và nhà trường.
Việc ứng dụng công nghệ, trong đó có trí tuệ nhân tạo, có thể hỗ trợ hiệu quả cho việc tổng hợp dữ liệu, phát hiện xu hướng và cảnh báo sớm các vấn đề về chất lượng. Tuy nhiên, công nghệ chỉ là công cụ hỗ trợ. Nếu hoạt động kiểm định chỉ làm cho hồ sơ nhà trường “đẹp” hơn vào thời điểm đánh giá mà không tạo ra cải tiến thường xuyên trong dạy học, thì mục tiêu nâng cao chất lượng thực chất sẽ rất khó đạt được.
Tổ chức thực hiện: Nhân Dân hằng tháng
Nội dung : TS Nguyễn Kim Dung (Phó Giám đốc Trung tâm Kiểm định chất lượng giáo dục Đông A)
Trình bày: Phi Nguyên
Ảnh: Nhân Dân, nguồn internet.
